DÂN CHỦ VỀ TƯ TƯỞNG

PHỎNG VẤN TỔNG TRƯỞNG GIÁO DỤC

VIỆT NAM CỘNG HÒA

BS NGUYỄN LƯU VIÊN

 

In lại từ Tạp chí Horizons Tập XIX Số 9, năm 1971, tr. 10-15

 

BS Nguyễn Lưu Viên là Tổng Trưởng Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa. Hệ thống các trường ở đây đã hội nhập khái niệm “trường cộng đồng”, nhằm nhấn mạnh vào sự tác động hổ tương giữa cộng đồng và học sinh, làm cho sự học hỏi trong lớp phù hợp với đời sống hằng ngày.

Tổng Trưởng Giáo Dục miền Nam đang xây dựng các trường trung tiểu học và đại học sao cho phù hợp với đời sống của người dân.

 

Mục tiêu: Dân Chủ về Tư Tưởng

Giáo chức ở miền Nam đã từng bị Việt cộng đàn áp và đe dọa giết chết nếu họ dạy học trò trung thành với chánh quyền quốc gia. Trường học thì bị tàn phá và cháy rụi bằng đạn súng cối. Học sinh bị phân tán việc học hành vì chiến tranh bắt buộc gia đình chúng tạm lìa xa nhà cửa tổ tiên.

Đó là hậu quả của chiến tranh đối với nền giáo dục ở miền Nam trong gần suốt thập niên ’60. Mặc cho những giao động, nền giáo dục ở đây vẫn phát triển hơn bao giờ. Năm 1954, khi miền Nam trở thành một quốc gia độc lập, chỉ có nửa triệu trẻ em (20% trong số đó đủ tuổi đi học) trong toàn miền cấp sách đến trường tiểu học. Đến niên học 1969-1970, có hơn hai triệu trẻ em  - 82% lứa tuổi 6  đến 11 – ghi tên nhập học. Sỉ số ghi tên nhập học bậc trung học vào 1954 chỉ có 3% lứa tuổi này, nay thì đến quá 620.000 hay 25% lứa tuổi học sinh trung học. Cơ sở giáo dục đại học tăng từ một viện đại học năm 1954 với 2.000 sinh viên lên đến năm viện đại học niên khóa 1969-1970 với 45.000 sinh viên.

Nếu không có những cố gắng phi thường của chánh quyền và dân chúng miền Nam thì những thành tựu này không thể có được. BS Nguyễn Lưu Viên, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục, là một trong những nhà lãnh đạo trong nước đã phục vụ hết mình cho nền giáo dục mới tạo nên những bước tiến vượt bực như thế. BS Viên, một y sĩ 50 tuổi, đã từng đứng trên bục giảng với tư cách giảng sư tại Trường đại học y khoa Sài Gòn. Qua cuộc phỏng vấn với thông  tín viên Carl Howard của Tạp chí Horizons, BS Viên nói rằng miền Nam Việt Nam đang hiện đại hóa hệ thống giáo dục của họ. Mục tiêu chánh của nền ”giáo dục mới” ở Việt Nam sẽ là tính thực tiễn và sự thích hợp với nhu cầu của một quốc gia thời hậu chiến và mối bang giao với các nước láng giềng Á châu.

 

H: Người ta nói Việt Nam đang tiến hành những cải tổ giáo dục quan trọng. Vậy những cải tổ này được thực thi theo thể chế nào?

Đ: Trước khi trả lời câu hỏi này, tôi phải trình bày cho ông biết quá trình về hệ thống giáo dục của chúng tôi. Bắt đầu từ căn bản chúng tôi thừa hưởng nền giáo dục của người Pháp. Họ đã thiết lập một chương trình với quá nhiều hàng rào. Trẻ em vào bậc tiểu học và khi học hết chương trình thì chúng phải qua một kỳ thi. Đây là một hàng rào. Lên bậc trung học, sau khi học hết lớp 11 học sinh phải thi Tú tài I. Lại một hàng rào nữa. Năm sau, học sinh phải thi Tú tài II. Không đậu Tú tài II thì học sinh không vào đại học được. Mỗi lần có hàng rào là chúng tôi mất rất nhiều học sinh. Hãy nhìn đây (BS Viên vẽ một sơ đồ trên cuốn sổ tay màu vàng có đường kẻ. Ông phát họa và phân đoạn nhiều chặng trên sơ đồ để chỉ dẫn từng giai đoạn của chương trình giáo dục). Ở giai đoạn đầu tiên, thí dụ chúng ta có 100 học sinh. Sau bậc tiểu học sỉ số học sinh còn lại 50. Cuối cùng chỉ có 7 em đậu Tú tài II sau 12 năm học. Trong số này có 3 em vào đại học. Nói chung trong 100 đứa trẻ đi học, trung bình có 1.7 em tốt nghiệp đại học.

H: Nếu tôi không lầm thì trong lần xuất hiện trên đài truyền hình gần đây ông đã nói là toàn bộ chương trình giáo dục “phí phạm”.

Đ:  Đúng vậy. Phí phạm về nhân tài và năng lực. Thiếu niên học đến Tú tài I hay Tú tài II có một số kiến thức nào đó nhưng không có khả năng chuyên môn. 97% số học sinh rời trường học trước hay sau kỳ thi Tú tài II để bước vào trường đời phải học một nghề nào đó. Cuộc sống ngoài đời rất khác biệt với những gì giới trẻ học trong lớp. Khả năng biết thích ứng với đời sống thực tế là điều quan trọng. Do đó, chúng tôi đang tìm cách thay thế những hàng rào của nền học vấn cũ. Chúng tôi sẽ có một chương trình giáo dục liên tục 12 năm. Đó cũng là chương trình giáo dục đang áp dụng trong nhiều trường ở các nước láng giềng của chúng tôi như Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bổn, Nam Hàn, Mã Lai, Nam Dương.

H: Một chương trình liên tục? Không bị gián đoạn?

Đ: Nói đúng hơn, bậc tiểu học có năm lớp và bậc trung học có 7 lớp nhưng không có hàng rào khó khăn như trước kia. Ngoài ra, chúng tôi đã đưa khái niệm “trường cộng đồng” vào các lớp bậc tiểu học nhằm nhấn mạnh vào mối tương tác giữa cộng đồng và học sinh. Hiện nay, chương trình này đang được áp dụng trong năm lớp bậc tiểu học trên toàn quốc. Chủ ý nhằm giúp đứa trẻ hiểu biết những gì xảy ra chung quanh nó. Những gì đứa trẻ học hỏi ở nhà trường phải hữu ích và ứng dụng được vào cộng đồng nó sống. Thí dụ: Nếu đứa trẻ sống ở miền quê, nó phải biết thế nào là sản xuất lúa gạo. Nếu đứa trẻ sống ở ven biển, nó phải hiểu về sinh hoạt của biển cả, về nghề đánh cá. Một đứa trẻ sống ở vùng rừng núi phải biết về sinh hoạt lâm vụ và làm thể nào để sản xuất gỗ. Kiến thức này sẽ trở thành hữu dụng khi đứa trẻ trưởng thành. Cho đến nay, giới trẻ đến lớp học với sách vở không liên quan gì với môi trường sống chung quanh chúng.

H: Kết quả như thế nào?

Đ: Tôi tin rằng khi áp dụng chương trình giáo dục cộng đồng, người dân sẽ biết rõ hơn để cải tiến lối sống của họ. Đến nay, các trường trung học của chúng tôi chỉ chú trọng vào lối học từ chương. Bằng cấp của học sinh xác nhận về trình độ học vấn chứ không có chút gì về kỹ năng. Bây giờ chúng tôi đưa vào chương trình “tổng hợp” hay trung học đa ngành với nhiều môn học về canh nông, kinh tế gia đình, kinh doanh và công nghệ.

H: Đây có vẻ như một thay đổi lớn.

Đ: Đúng vậy. Tuy nhiên, chúng tôi mới bắt đầu đưa chương trình này vào 11 trường khải đạo và sẽ mở rộng thêm tại nhiều trường trung học khác mỗi năm. Chúng tôi có khá nhiều khóa huấn luyện, phòng thí nghiệm và các cơ sở cần  phải thay đổi cùng một lúc. Thật tốn kém nhưng mục tiêu đạt được đáng giá - để cải tổ xã hội sao cho nhân lực có kỹ năng đáp ứng với những nhu cầu của một nước thời hậu chiến.

Ông thấy, xã hội chúng tôi giống như một kim tự tháp. Phần nền móng quá rộng là khối nông dân và công nhân không có kỹ năng đặc biệt nào cả. Kế đó, chúng tôi có thành phần công nhân có chút ít chuyên môn kỹ thuật. Đó là những chuyên viên và đốc công. Sau cùng là kỹ sư và những người được huấn luyện đầy đủ tại các trường đại học trong nước hay ở nước ngoài. 

Nhưng sự thiếu hụt lớn nhất là những chuyên viên, những công nhân cấp kỹ thuật. Kim tự tháp cần được củng cố ở chỗ đó và tôi hy vọng những ngành học như công nghệ ở cấp trung học sẽ giúp chúng tôi có số vốn về nhân tài. Sau bậc trung học, một số học sinh cũng có thể vào học tại trường kỹ thuật trong một hay hai năm.

H: Kế hoạch và mục đích của sự cải tổ giáo dục có mở rộng đến cấp đại học không?

Đ: Có. Di sản Âu châu của chúng tôi về ngành đại học cũng đưa đến một số lãng phí. Sự lãng phí chính phát xuất từ cơ chế điều hành giữa các phân khoa đại học. Thí dụ Viện đại học Sài Gòn có tám phân khoa: kiến trúc, nha khoa, luật khoa, văn khoa, y khoa, sư phạm, dược khoa và khoa học. Nếu một sinh viên vào học một phân khoa và thi hỏng sau hai hay ba năm, người này hoàn toàn lãng phí thời gian. Để theo học một phân khoa khác sinh viên này phải khởi sự lại từ đầu. Không có một chứng chỉ nào xác nhận người đó đã học được vài năm đại học, giờ đây chỉ còn là người có tú tài II, tốt nghiệp trung học.

H: Ông có biện pháp để giải quyết vấn nạn này không?

Đ: Chúng tôi nghĩ không có lý do gì mỗi phân khoa đại học lại dạy những môn học căn bản như hóa học một cách khác nhau. Làm sao giảm thiểu chi phí cho phòng thí nghiệm ở các phân khoa. Muốn thế, chúng tôi sẽ đưa các sinh viên những phân khoa khác nhau về học chung những môn học căn bản. Với những chương trình học được phân phối lại, một sinh viên có thể chuyển từ phân khoa này sang phân khoa khác mà vẫn không bị mất những tín chỉ học trình của mình. Như vậy, sự điều hành của viện đại học có hiệu quả hơn lại ít tốn kém nữa. Chất lượng giảng dạy được cải tiến vì có một phòng thí nghiệm rộng lớn có thể được trang bị tốt hơn là có bốn hay tám phòng thí nghiệm nhỏ. Thật ra, từ bản chất chúng tôi chuyển từ khuôn mẫu giáo dục đại học ở Âu châu qua sự mô phỏng của người Việt dựa vào khuôn mẫu giáo dục đại học ở Mỹ. Chúng tôi sẽ có các trường cao đẳng nhiều hơn là những phân khoa đại học. Chúng tôi cũng sẽ cấp chứng chỉ cho sinh viên theo học tại những phân khoa đại học 2 năm nếu các phân khoa này không mở được chương trình 4 năm.

H: Trong thời gian bao lâu nữa đề án này sẽ thực hiện ?

Đ: Chúng tôi sẽ thực hiện những bước đầu tiên vào niên khóa 1970-1971. Một viện trưởng và một khoa trưởng đại học đang nghiên cứu cơ cấu tổ chức đại học tại các quốc gia Nam Hàn, Phi Luật Tân và Nhật Bản. Những tiếp nhận do hai vị này đem về nước sẽ giúp chúng tôi hoàn chỉnh lại hệ thống đại học 4 năm. Hơn nữa, như tôi đã trình bày trước đây, trong vài năm chúng tôi sẽ thiết lập những trường  kỹ thuật mở các lớp dạy nghề - giống như những trường cao đẳng ở Mỹ.

H:  Những cải tổ này được thực hiện trong các cơ sở đại học hiện có hay tách rời thành những cơ sở đại học mới?

Đ: Tôi chưa biết nữa. Điều quan trọng là viện trưởng hai viện đại học Sài Gòn và Huế cùng các giáo sư đều đồng ý là cần phải thiết lập ngay hệ thống trường cao đẳng. Đó là việc quan trọng ở Việt Nam. Cơ cấu giáo dục căn bản này phải phù hợp với cơ cấu đang áp dụng tại các nước Đông Nam Á. Phần lớn các nước láng giềng của chúng tôi đã thực hiện hệ thống trường cao đẳng song song với giáo trình cử nhân và cao học. Với chương trình học theo Pháp, chúng tôi bị loại sang một bên. Bước vào thế kỷ 21, chúng tôi không muốn bị cô lập. Vậy chúng tôi phải sửa đổi lại theo mức định chuẩn của các nước láng giềng.

Một thay đổi rộng rãi nữa mà chúng tôi đang chuẩn bị là tính tự trị của đại học. Theo quy chế đại học Pháp, viện trưởng một viện đại học do Tổng trưởng giáo dục bổ nhiệm. Viện trưởng là một công chức nhà nước. Nhưng trong dự án luật do chúng tôi soạn thảo đang trình Quộc Hội, chúng tôi đề nghị thành lập một hội đồng quản trị đại học gồm những vị thuộc giới thương mại, ngân hàng, lao động và các nhân vật thuộc nhiều ngành nghề khác nhau.

H: Một hội đồng quản trị cho mỗi viện đại học?

Đ: Đúng vậy. Và mỗi hội đồng quản trị cũng sẽ có đại diện từ Hạ viện, Thượng viện, Hội đồng giáo dục, Hội đồng kinh tế và xã hội và Hội đồng thành phố. Chúng tôi muốn có một tổ chức thật rộng rãi. Chúng tôi cũng sẽ có một Hội Đồng Điều Hợp Quốc Gia đảm bảo giá trị văn bằng tương xứng giữa các cơ sở giáo dục và chương trình học. Nhưng thẩm quyền vẫn thuộc về Hội đồng quản trị của mỗi trường đại học.

H: Ông có dự tính chỉ định hội viên sinh viên trong Hội đồng quản trị không?

Đ: Chưa. Tuy nhiên, điều này tùy thuộc vào quyết định của Quốc Hội.

H: Thưa BS Viên, chúng ta đã nói về những cải tổ và hậu quả trực tiếp của việc làm này đối với các trường sở và học sinh. Có thể nào chúng ta đá động một chút về những thay đổi liên quan đến phụ huynh và cộng đồng nói chung?

Đ: Được chứ. Theo quy chế của Pháp, học sinh không đóng học phí hay chi phí nào trừ khi học trường tư. Giờ đây các trường trung học ở đây cần phải có tài trợ. Nếu không, sự bành trướng các trường trung học sẽ bị hạn chế, bởi chiến tranh tạo gánh nặng cho nền kinh tế, và giáo dục chỉ nhận được 4.4% của ngân quỹ quốc gia. Do đó, Thượng viện yêu cầu Hành pháp bắt đầu thu học phí cấp trung học. Tuy nhiên, nếu chúng tôi thi hành kế hoạch này và chỉ thị từ cấp Bộ xuống các trường bắt đóng học phí thì sẽ không ổn. Vì vậy, tôi giao cho cơ quan tự trị cấp địa phương thi hành kế hoạch này. Một ban giám định được thành lập tại mỗi trường trung học gồm đại diện chính quyền địa phương, lãnh đạo hội phụ huynh học sinh, hiệu trưởng và giáo chức. Ủy ban này có thể ấn định mức học phí, thu tiền và quyết định dùng số tiền này như thế nào.

H: Ông nhận thấy phản ứng về kế hoạch này như thế nào?

Đ: Các Hội phụ huynh học sinh trên toàn quốc ủng hộ ý kiến này, đặc biệt là các tỉnh. Họ biết rằng phải chờ đợi thật lâu mới xin được chút tiền để sửa một mái trường hay một thứ gì đó trong trường. Đôi khi đơn xin tiền do thủ tục phải kéo dài trong nhiều tuần để rồi nhận được hồi đáp, “Rất tiếc Bộ không còn tiền”. Các gia đình người Việt, đặc biệt là ở vùng quê, sẵn sàng hy sinh cho sự giáo dục của con cái họ. Họ biết làm vậy sẽ có trường học tốt và giáo chức giỏi. Vì lý do đó,  tôi nghĩ là một gia đình nông dân trung bình có thể bằng lòng đóng 10 giạ lúa (khoảng 200 kilo) tiền học phí đề làm cho ngôi trường con cái họ theo học trở thành tốt hơn.

H: Nói về sự đóng góp của phụ huynh học sinh, tôi nghe đồn là Bộ Giáo Dục có khẩn trương yêu cầu họ trang bị thêm lớp học trong niên khóa 1970-1971.

Đ: Bộ đã giải thích cho các phụ huynh học sinh biết Bộ không còn tiền để chi vào chương trình này. Thế là Hội Phu huynh học sinh nhận đóng góp xây cất thêm phòng học để nhận thêm sỉ số học sinh mới nhập học, đặc biệt là cấp lớp 6. Năm sau, chúng tôi sẽ có 400 phòng học mới cho cấp lớp 6 ở tỉnh và gần 100  phòng học mới cho các trường ở Sài Gòn. Điều này cho phép chúng tôi có thể thu nhận từ 40% đến 50% học sinh từ cấp lớp 5 lên cấp lớp 6. Trong niên học 1969-1970 chúng tôi chỉ thu nhận được 32%  hay 33% trong nhóm học sinh này.

H: Nhìn lại những thay đổi trong ngành giáo dục Việt Nam, theo ông ảnh hưởng nào có tính cách sâu rộng nhất?

Đ: Chương trình liên tục 12 năm mà Tổng Thống Thiệu ký sắc lệnh ban hành mấy tháng trước đây. Như vậy coi như xong rồi. Ngoài ra, chúng tôi cũng có một chương trình khác trên đà thực hiện không kém phần quan trọng. Tôi gọi đó là phân vùng giáo dục.

H: Có nghĩa như thế nào?

Đ: Đây là sự tản quyền. Tôi đã trình bày về kế hoạch tổ chức những ủy ban giám định gồm cấp lãnh đạo cộng đồng và trường học nhằm giải quyết vấn đề tài chánh cho những trường trung học tại địa phương. Họ quan trọng như nhau vì chúng tôi muốn khuyến khích địa phương đóng góp sáng kiến xây dựng chính sách giáo dục. Những đại diện của ủy ban giám định trường có thể họp với hội đồng điều hợp cấp tỉnh chẳng hạn. Hội đồng cấp tỉnh này có thẩm quyền quyết định nhiều vấn đề kể cả việc giới hạn chương trình giảng dạy trong lớp.

H: Về vấn đề phân vùng, nếu tôi không lầm thì Việt Nam hiện có giáo sư đại học ở nhiều nơi trong nước?

Đ: Đúng vậy, nhưng việc đào tạo giáo sư còn là vấn đề then chốt. Không có gì thành tựu được nếu không có giáo chức giỏi với số lượng đầy đủ. Cho nên khẩu hiệu gần đây của chúng tôi là “Tất cả nhằm đào tạo giáo chức”.  Muốn thế, chúng tôi tập trung vào những trường sư phạm mới và cố gắng đưa nhiều giáo chức tại chức đi tu nghiệp trong dịp hè. Giáo chức học thêm những lớp đặc biệt về các môn học mới như tân toán học, hóa học, khoa học cấp cao, v. v…

H: Nếu ông tiếp tục đào tạo nhiều giáo chức mới và thực hiện những cải tổ thì liệu có được bao nhiêu kết quả như ý muốn trong những năm sắp tới?

Đ: Chúng tôi có đủ khả năng thu nhận tất cả học sinh vào học năm lớp đầu các trường tiểu học từ nay đến 1975. Đó là mục tiêu của chúng tôi. Tôi ước mong cũng sẽ làm được như thế cho các trường trung học vào cùng thời điểm này, nhưng lại đòi hỏi phải  có nhiều giáo sư mới và xây cất phòng ốc thêm, điều này vượt quá khả năng hiện có chúng tôi. Có lẽ trong vài năm nữa.

H: Chúng ta hãy nhìn xa hơn. Như vào thế kỷ 21, nền giáo dục ở Việt Nam sẽ đóng góp được gì? 

Đ: Có hai lãnh vực chính yếu đòi hỏi các nhà giáo dục ở Việt Nam phải lưu ý. Thứ nhất,  lịch sử từ trước đến giờ cho thấy rõ là không một quốc gia nào có thể sống một mình; vậy chúng ta phải đưa vào chương trình học – ngay cả ở cấp tiểu học - khái niêm về hợp tác quốc tế và sự phụ thuộc hỗ tương giữa các quốc gia. Tôi từng nói với các giáo chức của tôi là chúng ta phải dạy cho trẻ em biết là Người Đông Nam Á phải chấp nhận sống chung với những người láng giềng của mình – như người Việt đối với người Cam-pu-chia, người Thái vân vân… Thứ hai, có lẽ định mệnh của nhân loại sẽ được quyết định trong vùng Thái Bình Dương. Do đó, chúng ta nên có cái nhìn thay đổi hướng về Thái Bình Dương nhiều hơn. Đây là sự khác biệt hẳn so với thế hệ của tôi với cái nhìn hướng về Âu châu.

H: Tại như vậy mà ông ngoảnh mặt đi với những khuôn mẫu kém thích nghi của nền giáo dục Âu châu?

Đ: Đó chỉ là một phần thôi. Hiện nay, học sinh phải đến trường nghe những gì ông thầy giảng và chấp nhận điều đó như chân lý không thắc mắc gì cả. Đây là do hệ thống Khổng học mà chúng tôi thừa hưởng cùng lúc với những truyền thống Âu châu. Trên thế giới hiện nay, mặc dầu chúng ta cần có thảo luận – giữa giáo sư và sinh viên đặc biệt ở cấp đại học. Đây là bước đầu dẫn đến dân chủ thực sự, một thứ dân chủ về tư tưởng. Giáo sư phải nói cho sinh viên biết: ”Chúng ta đến đây – anh và tôi – chúng ta cùng nhau tìm chân lý. Chúng ta sẽ tìm chân lý trong các sách, cả bằng thí nghiệm và sự tận tâm học hỏi. Chúng ta có các lớp giảng, những khóa hội thảo và trên hết chúng ta sẽ thảo luận.“ Có lẽ chúng tôi chấp nhận phương thức học hỏi đó trong giáo dục, ngay cả ở cấp thấp, vì đây  là việc quan trọng nhất mà nền giáo dục có thể làm để đẩy mạnh sự thực thi chế độ dân chủ trong xã hội Việt Nam. Học sinh không học được gì hết nếu chỉ lập lại sự kiện chúng nhớ. Học sinh phải học bằng cách đặt câu hỏi rồi mới chấp nhận. Nhờ vậy, các em sẽ trở thành những công dân tốt hơn.

Mục tiêu: Dân chủ về Tư Tưởng    

(Chuyển ngữ: Trần Quang Minh)