ĐỒ CHIỂU VỚI THI SĨ TÀU

Thu Hoài

 

Sống một cuộc đời thiếu ánh sáng, chịu bôi bỏ bao nhiêu nguyện vọng của một tâm hồn lúc nào cũng sôi nổi hào khí, cụ Đồ Chiểu đă cam yên phận chôn vùi thân danh trong lũy tre và vườn dừa, hôm sớm bầu bạn cùng lũ đồ đệ và ngâm đôi câu thơ cổ.

Yên phận và lánh đời, dường như ở thời ấy là một cứu cánh duy nhất của nhiều tâm hồn nhà nho dũng cảm mà chiến bại. như cụ Đồ Chiểu là một.

Tuy phải ở trong đêm dài vô tận, cụ không nản chí hay là tắt được ḷng đạo, cụ đă vô t́nh muốn bày giải nỗi ḷng u uẩn và buồn khổ của ḿnh, mà để lại cho đời những trang bất hũ: Văn dĩ tải đạo.

Hồi tưởng đến một người lúc nào cũng ch́m đắm trong cảnh âm u mà ánh sáng của thiên lương đă phát hiện bao vầng tươi rạng như thế, ta cũng có thể tự hào rằng thời dĩ văng cũng không đến đỗi quá điêu tàn.

Là một nho gia, cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu đă cho ta một tấm gương thật sáng. Là một thân sĩ cụ đă cho ta nhận thấy nhiều khí tiết cao hùng, và khi đă không c̣n một ư tưởng nào được gọi là hoạt bát, với những câu văn chán nản châm biếm, cụ đă phát ra một ánh sáng bừng to lên của một ngọn đèn sắp tắt.

Thấy ḿnh là một phế nhơn, nhưng nỗi u hoài không sao vơi được, mà chí hiên ngang của vị hùng nho như cũng không v́ thế mà lụt đi, nên vịnh hoa sen cụ đă viết:

Phải chi sanh gặp nơi tiên cảnh.

Lá rụng cao che khắp cát hèn.

Sống vào thời loạn, thi sĩ Nguyễn Đ́nh Chiểu thêm mang một thân thế không may, tuy trong lời văn có nhiều câu khẳng khái hùng hồn cũng nhận thấy nhiều nỗi u uất buồn rầu của cụ.

Là một nhà nho đầy tiết nghĩa, cụ, mặc dầu mù tối, cũng cố nâng cao phẩm giá của ḿnh trước trận băo lợi danh mịt mịt.

Đối với thi sĩ Tàu, cụ Đồ chiểu ngoại trừ văn phẩm có thể không thẹn tâm và chí, cái tâm chí không v́ thiếu ánh sáng mà sỗ sàng, không v́ thất thời cơ mà chán ngán.

Lỡ vận đành không riêng một ai. Trong lúc thiên hạ c̣n rối ben ḷng dân c̣n phân loạn, người đời phải sống dưới bao sự hăi hùng ghê rợn, có một thi sĩ Tàu đă than: “Sĩ ư vong quốc, tác thi nhân”.

Danh nhân Trung quốc cũng không thiếu người v́ thất chí mà hoặc chán đời lánh tục, hoặc thở than cho thân thế phù trầm của ḿnh như ông Khuất Nguyên khi làm quan nước Sở bị người gièm mà phải đuổi, tự nghĩ lấy làm thương tấm ḷng ngay chính hàm oan, nên khi qua sông Tương có làm một bài Sở Từ lời lẽ thâm trầm mà ư tứ như hơi oan ức:

… Đời đục mà không ai biết ta hề,

Ta cứ ruổi mau mà chẳng ngó…

Sớm mai ta sẽ vượt sông “Tương”

Đứng bến “Ngạc” quay đầu trông lại hề,

Ào ào nổi tiếng gió chi bi thương!...

… Vào bến “Tư” ta c̣n dùng dằng hề,

Ta chưa biết ở vào đâu!

Rừng sâu thẵm chi tối ṃ hề…

… Tuyết tơi bời chi khắp gần xa hề,

Mây đùn đùn mà kéo mau.

Thương cái sống của ta chi buồn bực hề,

Một ḿnh ở trong núi sâu.

Ta không hay đổi ḷng mà theo tục hề,

Đành ta trọn đời mà ôm sầu.

Kia Tang Hộ c̣n phải đi trấn hề,

Tiếp Dư c̣n phải tội gọt đầu.

Người trung đă chắc ǵ được dùng hề,

Người hiền đă chắc ǵ được ai cầu!

Người xưa mà c̣n như thế hề,

Ta c̣n oán ǵ người sau,

Ta cứ vững một ḷng mà giữ đạo hề,

Thôi, chẳng quản ǵ buồn rầu!

(bản dịch của Phan Kế Bính)

Xa cách nhau hàng vạn dặm, và hàng mấy thế kỷ, nhà thi sĩ Trung hoa kia và cụ Đồ Chiểu tả vẫn có những ư nghĩ tương tợ nhau về vua về nước, tuy ân triệu và cảm giác có khác nhau v́ hoàn cảnh xă hội.

Đỗ Phủ một thi hào đời Đường, có tiếng là nhà thơ lỗi lạc nhứt, cũng sống một cụôc đời ba ch́m bảy nổi, lưu lạc khắp nơi, cũng có nhiều tứ thơ đau buồn nhưng mênh mông và dịu dàng, mà ta có thể t́m thấy ở cụ Đồ Chiểu nhà ḿnh.

Nhà thi sĩ ấy một hôm đến Khúc Giang ngắm lá bay hoa rụng, bâng khuâng cho đời ḿnh mà tơ ḷng buông ra bao đường d́u dặt như ngao ngán, như oán hờn.

Hoa bay một cánh kém xuân rồi,

Gió dật muôn bông thật năo người!

Hăy ngắm tả tơi hoa trước mắt,

Chớ nề be bét rượu mềm môi,

Dưới thềm trả đẻ, nhà chi tá?

Bên dậu nghê nằm, mộ của ai?

Vật lư dường này, vui cũng phải,

Cần chi tiếng hảo bận cho đời?

(Ngô Tất Tố dịch)

Sanh làm kiếp thị nhân không những buồn cho số kiếp của ḿnh, thậm chí nh́n cỏ cây ủ rũ dưới trời thu, mà thơ cũng cảm thấy ḷng sầu chan chứa, sầu quá hóa vui ngang.

Quả có những câu này của Đồ Chiểu:

Một phương thù tránh đường gai gốc,

Trăm tuổi cho tṛn  phận tóc da.

Chén rượu đỏ ḷng xin cạn chén,

Nhớ nhau: ngày khác… biết sao mà!

Cụ Đồ Chiểu không nh́n thấy đời mà vẫn biết xót thương đời, và căm tức cho những người sáng không cố cập đạo lư:

Sáng chi nhân nghĩa bỏ đi,

Thảo ngay chẳng biết, lỗi ngh́ thiên luân!

Thấy rồi muôn việc trong trần,

Xin c̣n hai chữ “tâm thần” ở ta!

(Ngư Tiều vấn đáp)

Nhà thơ Đỗ Phủ không phải gặp cảnh tối tăm như cụ Đồ nhà ta, đứng trước cảnh thu về lá rụng vạn vật, như nhuộm vẻ ưu sầu, ḷng khỏi căm hờn nhưng không khỏi sinh mối tiếc thương. Nh́n được mà cảm thấy buồn làm sao, thi nhân đă viết:

Gịng sông cồn cộn, trời tung sóng,

Ngọn ải mờ mờ, đất rợp mây.

Lệ tủi: sợ coi cḥm cúc nở,

Ḷng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy.

(Ngô Tất Tố dịch)

Người mắt sáng ḷng dường như chua xót đến lo sợ khi sẽ nh́n cḥm cúc nở, người mắt tối lại lo cho bao kẻ thấy đường mà phải v́ ḷng tham muốn nhân nghĩa bỏ đi. Tuy khác nhau ở tối sáng, nhưng tấm ḷng yêu đời lo đời vẫn một! Thi sĩ ấy mới chơn thi sĩ không bao giờ “Vô binh thân ngâm”. Hai ông đều có sống trong một xung đột của lịch sử, mà tư tưởng của hai ông thật là siêu thoát thanh cao.

Sống một cuộc đời luôn luôn sóng gió, cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu đă mang thân lưu lạc từ tuổi thơ ngây, và gặp phải nhiều ân hận giữa lúc tâm hồn bị kích thích ghẹo trêu mà cụ vẫn nêu cao được khổng học, không hổ ḿnh là một chơn nho.

So với thi sĩ Trung hoa, cụ Đồ Chiểu thật đáng được chúng ta luôn luôn hằng năm truy niệm. Vả lại, đứng trước tấm gương sáng sủa thanh cao ấy, chúng ta, thanh niên của thời đại mới, nên tự nhận ḿnh có bổn phận phải học đ̣i nhắc nhở và tán dương.

Chúng ta phải tự rèn luyện như thế nào để khỏi hổ thẹn cảm hoài, các bực tiền bối chí sĩ và làm cho câu “hậu sanh khả úy” sẽ không phải là câu nói mỉa mai ở đời nầy và xứ nầy.

Nguồn: Tạp chí “Hạnh Phúc” số 52 – 1943, trang 8 – 9