Một Nhà Thi sĩ Trứ Danh Nước Ta

Cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu làm truyện “Lục Vân Tiên”

(1825-1885)

Nguyễn Ngọc Chỉ

 

 

Một nước đặng vẻ vang bao nhiêu là nhờ văn hay thi giỏi, chớ chẳng phải nhờ chinh-chiến hùng hào, công-thương to, kỹ nghệ thạnh mà thôi đâu, đời nào cũng vậy, nước nào cũng vậy, người đều trọng cái tinh thần hơn vật chất. Cái hồn của một nước phảng phất ở trên mấy bộ văn hay nhất của nước ấy. Văn mà làm cho nước vẻ vang bao nhiêu th́ các nhà làm văn có công ơn với quốc dân bấy nhiêu. Trong văn Pháp chẳng có bài b́nh luận cho hay hoặc quyển sách chỉ hay mà người đọc không biết lư lịch (biographie) của tác giả. Cái tiểu lịch sử của một nhà làm văn trứ danh là một bài học rất hữu ích cho ta.

Những bộ thi trong nước ta như Kim-Vân-Kiều, Chinh-Phụ, Cung-Oán th́ giá đáng ngàn vàng. Người ḿnh đọc, cung tụng mấy câu thi hay, trầm trồ mấy câu văn đúng, biết sinh mối cảm t́nh lai láng với mấy câu thi thần song chẳng có ư tọc mạch, t́m ṭi cho biết lư lịch của tác giả, chẳng muốn biết cơ hội nào, cảm giác nào, cảnh tượng nào làm cho tác giả sanh mối thương tâm, than thở mấy câu văn thoát tục năo nùng để cho ḿnh đặng xem mà phong ngợi bấy giờ. Thậm chí có người ngâm Kiều cả đời mà hỏi đến th́ không biết ông đặt truyện Kiều là ai! Bởi cái quan niệm về quốc thư như thế, nên trong văn ta có nhiều bộ hay, song v́ không ai nghĩ đến tác giả, không chép tên để lưu truyền lại làm cho mai một hiền tài, như gương truyện Bích Câu, Chinh Phụ vậy.

Xem một trong quốc văn ta th́ có nhiều quyển có giá trị phần nhiều là vận văn (poésie). Song có hai quyển có giá trị hơn hết, có ảnh hưởng to tát trong xă hội ta là truyện Kiều của cụ Nguyễn Du và truyện Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu. Văn của các nước ít có bộ nào mà đăng đủ hạng người trong xă hội ưa đọc như hai bộ văn này. Từ bậc hạ lưu cho đến thượng lưu chẳng ai mà không cảm hứng cái lư thú rất huyền diệu.

Ấy vậy, hai bộ này có ảnh hưởng to chừng nào th́ nhị vị tác giả có công ơn với quốc dân ta chừng nấy. Lư lịch của cụ Tiên Điền, thiên tài mỹ thuật của cụ thế nào, độc giả dư biết, v́ nhiều nhà văn sĩ bây giờ khảo cứu thường, có nhiều bài bàn bạc về cụ Tiên Điền trên tập Nam Phong này. Cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu th́ ít người biết. Nay muốn khảo cứu lư lịch cụ, truyền bá luân lư của cụ th́ rất khó, v́ đời cụ không ai để lại sách vở chỉ biên về lư lịch cụ. Tuy vậy mà sanh mối cảm t́nh với cụ bao nhiêu phải ráng bấy nhiêu.

Trong các nhà thi sĩ xưa ta duy có cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu là đáng thương xót nhiều. Đời người của cụ th́ lao đao lận đận vô cùng. Đọc cái lịch sử cụ lại càng chua xót, thương tiếc thay cho một nhà thi sĩ ta.

Cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu, tục thường gọi là Đồ Chiểu, sanh lối năm 1825 tại Saigon. C̣n hai năm nữa th́ tới kỳ ăn lễ kỷ niệm trăm năm của cụ, không biết chừng ấy người Nam ta nghĩ sao nên làm chăng? Cha mẹ cụ gốc người Thừa Thiên có di trú tại Huế. Thuở bé cụ học hành tại Huế. Năm thứ ba triều đức Thiệu Trị (1843) cụ thi đậu tú tài tại Saigon.

Hỡi ôi! Ba năm sau, cụ phải đau mà chịu mù hai mắt. Bọn học sanh tỉnh Biên Ḥa có nghe danh và tài học của cụ nên xin cụ lập trường dạy học. Cụ liền lập trường tại B́nh Vi. Xem như cụ mắt đă tối rồi, như người khác th́ đă ra thân vô dụng cho xă hội, mà cụ c̣n dạy học đặng th́ biết cụ là người thế nào, bền chí là thế nào! Tới đây ta mới nhớ lại nhà sử học Pháp là ông AUGUSTINE THIERRY  cũng như cụ. Lúc thừa nhàn cụ [NĐC] có biểu người nhà đọc cho ḿnh nghe một quyển truyện Tàu đề nhan Tây Minh. Cụ nghe rồi, thấy trong đấy có nhiều cảnh thảm y như cảnh tượng cụ đă gặp gỡ, nên sanh mối thương tâm vô hạn mà tác thành truyện Lục Vân Tiên.

Trong lúc nhà nước Đại Pháp qua Nam Kỳ, cụ cũng cùng các ông đồ khác theo binh mà chống cự lại. Ḷng ái quốc của cụ đáng kính, ai ai cũng vậy. Lúc bại trận rồi, Nam Kỳ bị chinh phục rồi, cụ không ngờ tân trào rất có nhân, không theo hành hà, bắt buộc những kẻ lúc trước chống cự lại, nên cụ phải thất thơ thất nghiệp, nay cuối bể mốt đầu gành, không chỗ an thân. Rất thảm thiết thay cho một bậc thiên tài như cụ. Lúc b́nh tỉnh rồi cụ mới rơ cái chế độ của tân trào, nên an ḷng về ở yên tại Ba Tri (hạt Bến Tre). Cụ liền lập trường tại đấy. Học tṛ cụ càng ngày càng đông, tụ tập về đặng nghe giảng dạy.

Mà hỡi ôi! Ông tạo sanh ra các đứng thiên tài rồi dường ăn năn tiếc cái ơn riêng ḿnh đă ban cho loài người, muốn lấy lại. Cụ đă tối mắt rồi nay lại lần lần chẳng nghe đặng chi cả. Tin thảm này truyền lần ra dân gian, ai ai cũng thảm thiết cho cụ. Nhà nước hay đặng nên tính giúp cho cụ một số tiền, thưởng công một nhà thi sĩ như cụ, đặng an lúc tuổi già.

Nhưng cụ từ chối không lănh. Cụ rằng: Rất cảm t́nh nhà nước chiếu cố, cụ ở an với học tṛ và cũng có dư chút đỉnh mà điều đ́nh ngày chót của cụ. Tới đây mới biết cái phẩm người của cụ. Vậy th́ sự lănh quyền cao lộc cả, vui thú thanh nhàn, an thường thủ phận mà cụ than thở trong truyện Lục vân Tiên chẳng phải là chẳng có. Cụ nói ra bao nhiêu th́ làm theo bấy nhiêu:

Ông quán

“Quán rằng Nghêu Thuấn thuở xưa,

Khó ngăn Sào Phủ, khôn ngừa Hứa Do.

Di Tề chẳng khứng giúp Châu,

Vào nơi non núi ai hầu chi ai.

Ông Y, ông Phó, ôm tài,

Kẻ cày người cuốc đoái hoài chi đâu.

Thái công xưa một cần câu,

Sớm khuya sông Vị mặc dầu vui say.

Nghiêm Lăng xưa mấy lo âu,

Gió mây thong thả công hầu chiêm bao.

Nay xưa dễ có khác nào,

Muốn ra ai cấm muốn vào ai ngăn.”

Ông chài

“Sông trong rửa ruột sạch trơn,

Một câu danh lợi chẳng sờn ḷng đây.

Rày voi mai vịnh vui vầy,

Ngày thời hứng gió đêm thời chơi trăng.

Ngày ngày thong thả làm ăn,

Khỏe thời chài lưới, mệt quăng câu dầm.

Linh đinh nay chít mai dầm,

Một bầu trời đất vui thầm ai hay.

Kinh luân đă sẵn trong tay,

Ngửa nghiêng mặt nước vui say giữa trời”.

Ông tiều

“Ḷng già chẳng muốn của ai,

Lộc rừng nuôi bữa hôm mai no ḷng.

Ra vào rừng núi thong vong,

Trăng thanh gió mát bạn cùng hươu nai.

Công danh phú quí mặc ai,

Gẫm trong cuộc thế hôm mai khó rày”.

Lối năm 1885 cụ đă yếu quá, hết biết chi nữa. Cụ chẳng c̣n ham muốn chi nữa, đến quyển Lục Vân Tiên mà cụ cũng không ngó tới.

Rất tiếc thay cho một bậc nhân tài như cụ, mà mắc phải cái thân tàn tật khôn thế làm chi cho thỏa nguyện ḿnh!

Mục đích cụ Đồ Chiểu làm ra quyển Lục Vân Tiên là để dạy người nhà và học tṛ cụ, chớ chẳng phải quyết tập luyện câu văn cho tuyệt xảo mà làm một nền quốc văn cho ta. Bởi thế phần nhiều độc giả chẳng thích truyện Lục Vân Tiên. Có nhiều câu văn trong đấy rất là tầm thường, ít có câu văn tuyệt bút như truyện Kiều mà đâm ngay vô ḷng ta, làm cho ta đọc đến phải lắm lúc rơi châu, dầu vậy chớ hấp tấp mà b́nh phẩm rằng văn cụ vô giá trị th́ lầm to. Cũng nhờ mấy câu văn tầm thường ấy mà cụ được phong ngợi muôn đời, nếu ai xem kỹ văn cụ, cái thiên tài của cụ rất điều ḥa, khác hẳn với cụ Tiên Điền. Văn ấy có một cái lư thú riêng, rất rơ ràng, rất là dễ hiểu, cũng công nhận là cụ sút cụ Tiên Điền, v́ cụ thán t́nh với cảnh khốn đốn, không đặng ai oán năo nùng, không soi quả tim người như cụ guyễn Du. Cái “hay riêng” của văn cụ khó giải đặng. Ấy cũng nhờ rơ ràng và mấy tiếng thường khéo sắp đặt mà người ta thường gặp trong văn cụ.

Tóm tắt lại th́ cái mỹ thuật rất sút truyện Kiều, kư giả đă có nói trên rằng cụ không có ư tác thành một nền quốc văn có mỹ thuật, nhưng mà là một bộ thi luân lư ṛng để dạy người vậy.

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh là câu trau ḿnh.

Cụ muốn dạy rơ đạo làm người đối với bổn phận ḿnh và lấy luân lư làm gốc. Cụ có cái quan niệm rất thanh cao về vấn đề “Quân, Sư, Phụ”, cái thuyết đầu của luân lư xă hội Việt Nam.

Ban đầu quyển Lục Vân Tiên c̣n dùng dạy học tṛ và người nhà cụ, Sau lần lần cả nước đều hay, đều biết hứng câu văn và luân lư của cụ.

Bấy giờ cả dân gian đều ham đọc, từ ông đồ hay chữ thông minh cho tới mấy chị hàng tôm dốt nát tầm thường. Ấy thiệt là một bộ thi có ảnh hưởng to cho phong hóa về mấy chục năm trước. Đời nay là đời duy tân, ăn mặc cũng đổi, tiếng nói cũng muốn đổi, chẳng ai nhớ cái đẹp đẽ thuở xưa, nên bộ Lục Vân Tiên lần lần cũng vô lối văn cổ điển!

Người Pháp sang ta mà biết hưởng văn ta có hai người là ông ABEL DES MICHELS vừa dịch truyện Kiều vừa dịch truyện Lục Vân Tiên, và ông EUGÈNE BAJOT  là giáo sư dạy tại trường CHASSELOUP LAUBAT (Saigon) lối năm 1885. Ông đọc truyện Lục Vân Tiên, biết hiểu thấu tâm lư của tác giả, ông sanh mối cảm t́nh vô hạn, nên dịch trọn ra thơ Pháp. Trước đầu quyển sách của ông có một đoạn lư lịch của cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu. Người ngoại quốc mà biết am hiểu cái hồn của dân ta như thế, biết sanh mối thương tâm như thế, nghĩ mà nực cười cho phần nhiều mấy cậu tuổi nhỏ nước ta đời nay, - tương lai của Việt Nam ta đó! - mới vừa nhom nhem tiếng Tây mà đă trở lại khinh khi tiếng mẹ đẻ ḿnh, không muốn học, không biết trong lịch sử quốc văn ta có lắm lúc vẻ vang. Bàn đến cụ Tiên Điền, cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu th́ bơ ngơ, báo ngáo mà nói đến tên các cụ CORNEILLE, VICTOR HUGO, th́ nhảy nhót la vang tên mấy quyển sách “Le Cid”, “Les Contemplations”, dường như ḿnh đă rơ tột hiểu thấu như mấy nhà b́nh văn Pháp vậy. Thiệt là “có vỏ mà không ruột ngay” như lời ông Phạm Quỳnh đă nói rất đúng.

Dưới đây xin trích vài đoạn văn hay nhất của truyện Lục Vân Tiên, để cống hiến cho độc giả xem:

1. Vân Tiên Tạ Thầy Đi Thi

Xảy nghe mở hội khoa thi

Vân Tiên vào tạ tôn sư xin về.

Bấy lâu cửa thánh dựa kề,

Đă tươi khí tượng lại xuê tinh thần.

Nay đà gặp hội phong vân,

Ai ai mà chẳng lập thân buổi nầy.

Chí lăm bắn nhạn ven mây,

Danh tôi đâu rạng tiếng thầy đồn xa.

Làm trai trong cơi người ta,

Trước lo báo bổ sau là hiển vang.

Tôn sư bàn luận tai nàn,

Gẫm trong hệ số khoa tràng c̣n xa.

Máy trời chẳng dám nói ra,

Xui thầy thương tớ xót xa trong ḷng.

Sau dầu to nỗi đục trong,

Phải toan một phép để pḥng hộ thân.

Rày con xuống chốn dương trần,

Thầy cho hai đạo phù thần đem theo.

Chẳng may mà gặp lúc nghèo,

Xuống sông cũng vững, lên đèo cũng an.

Tôn sư trở lại hậu đàng,

Vân tiên ngơ ngẩn ḷng càng sinh nghi…

2. Lúc Đi Về

Ra đi vừa rạng chơn trời,

Ngùi ngùi nhớ lại ngó nơi học đường.

Tiên rằng: “Thiên các nhứt phương,

Thầy đeo đoạn thảm tơ vương mối sầu.

Quản bao thân trẻ dăi dầu,

Mang đai Tử Lộ, quảy bầu Nhan Uyên.

Bao giờ cá nước gặp duyên,

Đặng cho con thảo phỉ nguyền tôi ngay.

Kể từ lướt dậm đến nay,

Mỏi mê hầu đă mấy ngày xông sương.

Đoái nh́n phong cảnh thêm thương,

Vơi vơi dặm cũ nẻo đường c̣n xa…

 

Nguồn: Tạp chí Nam Phong số 76  ngày 10/1923, tr. 308-311