NGUYỄN Đ̀NH CHIỂU THI SĨ

Y sĩ  Ngô Quang Lư

 

Bước chân vào một pḥng triển lăm mỹ thuật, ta thử đứng giữa pḥng, đưa con mắt khắp bốn phía, nh́n những bức họa, bức b́nh phong, ta sẽ thấy đủ các màu sắc thiên nhhiên. Những màu sắc ấy, nhà mỹ thuật đă khéo lấy con mắt thâu vào trí năo, rồi dùng các màu thuốc, dùng cái tài, dung ḥa tạo lập ra những cảnh tưng bừng, khiến người coi, ngắm cảnh nhân tạo, đem ḷng yêu mến cảnh thiên nhiên, yêu muôn vật, mà chẳng quên yêu cả cái tài nhà mỹ thuật.

Tôi đă thăm nhiều cuộc trưng bày về mỹ thuật.

Tôi nghiệm rằng nhà mỹ thuật tuy đă khéo lựa tỉa những cái thừa trong cảnh vật mà chỉ thâu vào khung khổ cái vừa đủ để tạo nên một cảnh tuyệt mỹ; nhưng đến các màu sắc th́ tôi ít thấy nhà mỹ thuật táo bạo.

Những bức tranh về b́nh minh, khi chiều trời bóng ngả, lúc trăng rọi đầu gành, những bức họa về mỹ nhân có đôi mắt mơ màng, hay nằm khỏa thân, xơa tóc trong lớp màn “tuyn”, đều được nhiều người ưa chuộng.

Cái đẹp của thiên nhiên phải chung đẹp vào lúc tranh tối, tranh sáng, mập mờ.

Ai đă cả gan vẽ một cảnh trưa hè trên băi cát?

Có vẽ những cảnh lúc mặt trời chói lọi, nhà mỹ thuật đă khéo cho ánh sáng xuyên qua khe lá xanh ŕ, vàng ửng để ánh sáng vởn những màu tươi sáng khác.

Cái chói lọi, phải chăng nó làm quáng mắt nhà mỹ thuật hay hết thảy mọi người.

Nhưng ánh sáng lại là tất cả. U tối là tẻ lạnh của vạn vật, muôn loài.

Nh́n bức thủy mạc mưa phùn trước rặng lau thưa, ngắm cảnh màu đông, cành cây trơ khốc với một bầu trời mây vẩn, âm u, một nỗi buồn man mác đă thoáng qua trong tâm trí.

Rồi đến cái tịch mịch, âm u của những đêm không trăng, không sao, th́ nó tẻ lạnh làm sao! Tôi đố nhà mỹ thuật nào tạo ra được một bức tranh tuyệt mỹ.

Cái u tối đó đă mờ đôi mắt nhà mỹ thuật.

Đem bít hai con mắt nhà mỹ thuật lại, rồi để người ấy trước những cảnh huy hoàng, rực rỡ của Hóa công, nếu người ấy tạo ra được một tác phẩm mà người đời phải yêu, phải thích, th́ người ấy phải có một kỳ tài.

Người ấy, chúng ta có,

Người ấy, một thi sĩ mù.

Người ấy, ông Đồ Nguyễn Đ́nh Chiểu.

*   *   *

Một thanh niên mới hai mươi sáu cái xuân xanh, đương thời bay nhảy, bao năm lao đao nơi sân Tŕnh, cửa Khổng, những mong ngày kia, rồng mây gặp hội, để đền ơn cúc dục, trả nợ non sông, th́ than ôi, đánh đùng một cái, danh đă lỡ làng v́ vai mang chữ Hiếu, rồi kế đó, thân lại đeo thêm một cố tật, khiến bốn mươi năm trời, chịu sống trong cảnh u tối mịt mờ.

Hai mắt ngọc đâu c̣n vẻ long lanh mà thâu nhập những cảnh sác rực rỡ của Hóa công. Những ngày chói lọi, muôn màu ngàn sắc nó cũng chỉ là những cảnh u tối, chiều hôm. Ngày buồn tanh, đêm trống rỗng “thuyền hồn chở một khoảng không” rồi với cuộc đời sóng gió bên tai, nó chỉ làm cho nỗi bi ai càng thêm nặng chĩu.

Ôi! Mới hai mươi sáu cái xuân xanh, mà đă già trong tâm sự. Ông tiếc cho thân thế, cái thân thế đă hẹn với tang bồng: ông tiếc đời xuân không bao giờ trở lại.

“Cây cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,

Chúa xuân đâu hỡi? Có hay không?”

Ngước mắt trông lên, chỉ thấy đen x́ một bóng. Đường đi không biết, lối lại th́ không, trèo non xuống dốc, ai người giúp đỡ! Cái cảnh:

“Mây giăng ải bắc, mong tin nhạn,

Ngày xế non nam, bặt gió hồng”.

Thật là ngao ngán; phận cho ông Trời cho, tưởng đến những đau ḷng!

T́nh đă như thế, cảnh đă như thế; vậy mà ông đă đem những ngày không hoa, không chim, đem chút xuân tàn tạ trong ḷng mà tạo ra được những lời nói, câu văn, truyền tụng khắp non sông, ghi lại cho hậu thế, th́ phải chăng ông đă có một ḷng kiên nhẫn phi thường với một tài ba lỗi lạc.

*   *   *

Đọc văn Nguyễn Đ́nh Chiểu, có người nói: “ta sẽ thấy những chỗ bơ thờ, lạc lẽo, sống sượng, lúng túng, vụng về”.

Tôi, th́ tôi nói: văn Nguyễn Đ́nh Chiểu không màu sắc.

Nói không màu sắc cũng không đúng. Tiên sanh chỉ dùng những màu tưởng tượng và phần nhiều những màu khô khan, héo úa.

Th́ đây:

“Vườn luống trông xuân, hoa ủ dột,

Ruộng riêng sầu chủ, lúa khô khan”

Hoặc:

“Đá kêu rêu mọc bia Dương Nghiệp,

Cỏ úa hoa tàn mả Lư Lăng”.

Bảo rằng những luật của thơ Đường nó ép uổng chỉ dùng có mười bốn chữ trong hai câu tả, nên màu tươi, sắc thắm không nẩy ra trên thơ tứ tuyệt, bát cú, là sai. Th́ ta lấy ngay một vài tỷ dụ ở các nhà văn khác.

Hai câu của bà Huyện Thanh Quan sau đây: thật là một bức tranh đơn sơ mà tuyệt mỹ:

“Xanh ôm cổ thụ tṛn xoe tán,

Lan tươi, huệ tốt, lá xanh xanh”.

Nhưng b́nh sanh, Nguyễn Đ́nh chiểu ít làm thơ thất ngôn tả cảnh, vậy ta thử kiếm trong thơ lục bát là lối sở trường của tiên sanh, xem có chăng những màu rực rỡ:

Một cảnh, tiên sanh đă kết là “cảnh xinh như vẽ, người tươi như dồi” mà tiên sanh viết:

“Buồn trông dậm liễu đường ḥe,

Tiếng chim gọi hăm, tiếng ve kêu sầu.

Buồn trong non nước một màu,

Sông quanh quẩn khúc, núi chồng chịt cao.

Thác gành lên xuống trải bao,

Trên gành chim hót, dưới ao cá cười”.

 (Trích Lục Vân Tiên)

Th́ thật chúng tôi chẳng thấy cái xinh, cái tươi ở chỗ nào cả.

Trong một đêm trăng mờ, có lẽ nó hạp với tâm hồn tiên sinh, th́ những cái mờ mờ, tối tối nó thoát ra được một cách dễ dàng:

“Hai bên bờ bụi rậm ri,

Đêm khuya vắng vẻ gặp khi trăng mờ.

Trông chừng đường sá bơ vơ,

Có đàn đôm đốm mờ mờ đi theo.

Qua sông rồi lại trèo đèo,

Ve kêu sầu năo, dế kêu năo nùng”.

(Trích Lục Vân Tiên)

Nhưng đến cái cảnh sau đây, dẫu tiên sinh có cố dùng sức tưởng tượng mà tả ra, nó cũng vẫn bằng phẳng u tối. Các màu tươi thắm vẫn không sao bật nổi lên được.

Một cổ miếu bên đường, trước có đám sen,mà lại dưới một ngày trời nắng, th́ biết bao màu sắc. Thế mà tiên sinh đă viết:

“Thấy ṭa cổ miếu bên đường,

Cây cao bóng mát, vách tường phấn tô.

Cùng nhau tránh nắng bước vô,

Trước sân thấy có một hồ hoa sen.

Một hồ sen nở lơa bèn,

Hoa đua nở nhụy, hoa chen ngậm cười!”

(trích Dương-Từ Hà-Mậu)

Một cảnh nữa đáng lẽ nó phải lộng lẫy nguy nga, nó phải tưng bừng rực rỡ, thế mà với lời văn Nguyễn Đ́nh Chiểu nó lại tẻ ngắt, “lạnh lùng”. Cảnh ấy, cảnh Đức Khổng tử đi chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế:

Phút đâu trên chốn tây lâu,

Nổi ba tiếng sấm, nhóm chầu các cung.

Áo xiêm đai măo, lạnh lùng,

Tinh quân các vị, rùng rùng tới nơi.

………………………………………

Thấy đi có tấm thẻ bài,

Để rằng Khổng Tử đại tài thánh vương.

Ngồi trong kiệu ngọc ngàn vàng,

Một ông Khổng Tử dung nhan tốt lành.

(Trích Dương-Từ Hà-Mậu)

Những bức tranh mà Nguyễn Đ́nh Chiểu vẽ ra bằng lời thơ đó, chỉ là những bức thủy mạc mà tác giả đă trưng bày sau một tấm màn thưa.

Ta không thể trách được nhà văn ấy, Mà ta cũng không thể  lấy đầy mà giảm tài nghệ của thi nhân.

Đọc suốt cuốn Lục Vân Tiên, ta phải thấy cái khéo của tác giả. Mỗi khi cần phải tả một cảnh thiên nhiên, tiên sinh v́ cố tật của ḿnh, cái tật nó làm cho tiên sinh trở nên vụng về, tiên sinh chỉ như một nhà họa sĩ, dùng mấy nét phác đơn sơ, tạo nên một bức tranh có h́nh, có bóng, c̣n màu sắc tiên sinh để người đọc mặc sức điểm tô. Những cảnh ấy nó chỉ thoáng trong một vài câu, rồi những hoạt động của nhân vật trong cảnh nó bật hẳn lên, chiếm hết phần quan trọng, che kín những phong cảnh chung quanh.

*   *   *

Văn Nguyễn Đ́nh Chiểu không có những màu sắc tưng bừng, nhưng trái lại, có một nhạc điệu rất phong phú, cái nhạc điệu theo luật thừa trừ của tạo hóa mà nẩy ra.

Hai con mắt đă mù, th́ hai lỗ tai phải thính. Một nhà họa sĩ Nhựt Bổn chẳng may về sau cũng đui hai con mắt như thi sĩ Nguyễn Đ́nh Chiểu chúng ta mà lại đeo theo bịnh lăng tai, có nói: “Mùi thơm của bông hường, bông huệ khác nào một khúc ca ngâm” Th́ ra ông Trời, khi đă ăn cướp của người một bộ phận, lại đền bù cho người một một nguồn cảm thụ lực khác thường trong những cơ quan khác.

Cái nhạc điệu nó rải rác trong văn Nguyễn Đ́nh Chiểu th́ nhiều. Ngay trong mấy câu văn tôi trích ở trên, ta đă thấy những tiếng chim hót, ve kêu, cá cười, dế gọi.

Đọc đoạn văn sau đây, chúng ta thấy nó linh động, vui vẻ, êm dịu biết chừng nào. Nó là cảnh ḥa nhạc thánh thú: ṭng reo chim hót, đàn suối, hoa cười. Cảnh hữu t́nh thay:

“Hữu t́nh thay ngọn gió đông,

Cành mai nỡ nhụy, lá ṭng reo vang.

Cỏ thơm hớn hở bên đàng,

Như tuồng mừng khách đong hoàng đến đây.

Líu lo chim nói trên cây,

Như tuồng chào hỏi khách nay đến nhà.

Hai bên cỏ mọc giao ḥa,

Như tuồng đón rước giang hà người sang.

Dưới khe nước chảy tợ đàn,

Như tuồng mừng bạn hương quan tách vời.

Trăm hoa đua nở miệng cười,

Như tuồng mừng rỡ gặp người cố tri”.

(Trích Dương-Từ Hà-Mậu)

Nhưng Nguyễn Đ́nh Chiểu không phải là nhà văn ngồi mà ca tụng cái đẹp của thiên nhiên.

Mới mười tuổi đầu, thân đă lao đao, xa mẹ ĺa cha, rời đất Saigon ra Huế để tám năm theo thầy luyện tập. Tiên sinh chỉ biết ra công xôi kinh, nấu sử, th́ năm hai mươi hai tuổi đă giựt được cái tú tài khóa quí măo ở Gia Định (1843). Tài c̣n sơ, trí c̣n thiển, tiên sinh ra công mài giũa mà chờ khóa sau. Khóa sau! Ḷng tiên sinh nào được toại.

“Hiềm v́ ngựa chạy c̣n xa,

Thỏ vừa ló bóng, gà đà gáy tan”.

Vai mang chữ hiếu, nên lỡ dỡ đường công danh, rồi hai mắt mịt mù, thân đeo cố tật.

Đă buồn cho thân thế, lại buồn thêm v́ cảnh non sông, th́ bảo tiên sinh c̣n th́ giờ nào, c̣n óc nào mà nghĩ đến những cảnh vui tươi sáng rạng.

Văn Nguyễn Đ́nh Chiểu tả phong cảnh th́ ít, mà tả tâm cảnh th́ nhiều.

“Cảnh là cái điều giả dối, phù vân, mà tâm mới chân thành trường cửu”.

Tả tâm cảnh, văn tiên sinh lại rất lưu loát

“Những lâm phụ mẫu hiển vinh,

Nào hay từ thọ u minh sớm rồi.

Thấu chăng bể rộng trời dài,

Tưởng niệm cúc dục ră rời phế can”.

(Trích Lục Vân Tiên)

Cái bịnh của tiên sinh, cái bịnh nó làm cho “Lỡ bề báo hiếu, lỡ bề lập thân”, tiên sinh rất lấy làm đau xót:

“Làm ra cớ ấy, tạo hóa ghét chi nhau,

Nghĩ đến đoạn nào, anh hùng rơi lụy măi”.

Giá ta cứ tin ở hai câu trong Ngư tiều vấn đáp:

“Thầy ta chẳng khứng sỉ liêu,

Sưng hai con mắt bỏ liều cho đui”.

Th́ ta tưởng tiên sinh đă hủy tấm thân một cách dễ dàng qúa. Sự thật nào phải vậy.

Sưng hai con mắt, tiên sinh cũng ráng trị, nhưng lẽ số phận bắt tiên sinh phải đui mù, cho nên chẳng gặp thầy, liệu chiều thang thuốc, nhưng:

“Mười ngày chẳng bớt chút nào,

Ruột đau chín khúc như bào, như sôi”.

Mà chưa được một trăng th́ ôi thôi, một tấm màn đen đă bít bùng đôi tṛng mắt:

“Xót thương đôi ngả mịt mù,

Biển sông nào biết bụi bờ là đâu”.

Lắm lúc vẩn vơ, óc những mơ ước, cầu khẩn một vị thần tiên giáng thế mà cứu giúp ḿnh:

“Đêm nằm thấy một ông tiên,

Đem cho thuốc uống mắt liền tỉnh ra”.

Nhưng điều đó chẳng qua là ảo mộng. Tỉnh giấc mộng, trông về thiệt tế, tin ở ḷng, ở sức, tiên sinh học thuốc. Biết đâu ḿnh chẳng kiếm được một phương kế, tự trị bịnh ḿnh. Nhưng tạo hóa c̣n nhiều cái khắc khe, mà khoa học chẳng sao thắng nổi.

Đeo đẳng trong hai năm trời, vô kế khả thi, tiên sinh đành trở lại Saigon với tấm thân tàn tật (1850).

*   *   *

Thân thế đă như vậy, mà cái thân thế của Nguyễn Đ́nh Chiểu từ đây khác nào thân bèo trôi sóng vỗ.

Lập một trường để truyền đạo thánh hiền cho sĩ tử, tiên sinh vừa nổi tiếng ông đồ, th́ cuộc tang thương dồn dập, đất nước loạn ly cái thân mù lại chạy về Cần Giuộc (1861).

Tiếng sấm cứ gầm, dân cư vẫn chạy, tiên sinh nào được ở quê vợ lâu năm. Sau Saigon, Cần Giuộc cũng thất thủ. Thế là tiên sinh lại ra đi, mà lần nầy đi măi “nơi chân trời góc biển” là đất Ba Tri (Bến Tre) để nương tấm thân bịnh hoạn với nỗi ḷng chua xót.

“V́ câu danh nghĩa phải đi ra,

Day mủi thuyền nan dạ xót xa.

Người để muốn chi nương đất khách,

Trời đà muốn vậy mến vua ta.

Một phương thà tránh đường gai gốc,

Trăm tuổi xin tṛn phận tóc da”…

Bao năm lao đao nơi sân Tŕnh cửa Khổng, tiên sinh nào bỏ phí cái tài ba. Cái đạo nho mà tiên sinh thờ kính tôn sùng, bao giờ tiên sinh cũng quyết một ḷng giữ trọn. Ngoài cái th́ giờ giảng sách thánh hiền, tiên sinh c̣n làm thơ khuyên thế.

“Giận đời lắm việc đảo điên,

Làm thế khuyên thế miệng liền ngâm chơi”

Th́ mở đầu cuốn Lục Vân Tiên đă thấy cái dụng tâm của tác giả.

“Trai thời trung hiếu làm đầu,

Gái thời tiết hạnh là câu trau ḿnh.”

Luôn luôn tiên sinh giảng giải những chỗ uyên thâm của nho đạo. Những chi tiết về tam cương, ngũ thường, thường được chỉ dẫn một cách rơ ràng:

“Thánh xưa hiền trước để lời,

Pḥ vua giúp nước sửa đời dạy dân.

Học cho biết lẽ quân thần,

Biết phần phụ tử, biết phần hiếu trung.

Dặn ḍ tua khá th́n ḷng,

Chớ tham của hoạnh, đừng mong thói tà.

Nhiều người theo đạo nho ta,

Tiếng đồn thời khá vậy mà làm nhăng.

Bỡi v́ không xét ḷng hằng,

Bỏ quên cội gốc, theo phăng ngọn ngành.”

(Trích Dương-Từ Hà-Mậu)

Tiên sinh cổ vơ những khí tiết anh hùng:

“Làm trai trong cơi thế gian,

Phú đời giúp nước, phơi gan anh hào.

Làm cho tỏ mặt tài cao,

Nước non biết mặt, thị tào biết tên.”

(Trích Lục Vân Tiên)

Mà trái lại, tiên sinh hết sức mạt sát những điều trái với luân thường, đạo lư.

“Mả chồng ngọn cỏ c̣n tươi,

Ḷng nào mà nỡ nói lời nguyệt hoa,

Hổ thay mặt ngọc da ngà,

So loài cầm thú dễ mà khác chi.”

(Trích Lục Vân Tiên)

Chắc lắm khi trong cái tịch mịch thanh văng của gian nhà hẻo lánh xa xôi, sao một nỗi buồn mông lung vơ vẫn chẳng những nẩy nở trong  tâm hồn bịnh hoạn? Nhưng đối cảnh, tiên sinh lại phấn đấu với cảnh, mà thả hồn thơ vào những cảnh diễm ảo mơ màng, nó là những cảnh thanh tú ở nơi non tiên nước thánh.

Điều đó, ta đă nhận thấy trong cuốn Lục Vân Tiên mà ta lại thấy nhiều trong những tác phẩm sau như Dương-Từ Hà-Mậu, Ngư Tiều vấn đáp.

Chuốt ra hai chén quỳnh tương,

Răng xin gượng uống về đường cho an.

Từ đây xuống chốn dương gian,

Non tiên xa cách khôn đàng trở lên.

Gặp nhau biết lấy chi đền,

Chút duyên bèo nước nào quên t́nh nầy.

Ngàn năm bóng gió ở đây,

Riêng than chim nhạn rẽ bầy kêu xa.”

(Trích Dương-Từ Hà-Mậu)

Nhân vật  ở các tác phẩm đó, nhiều khi nó là phản ảnh của Nguyễn Đ́nh Chiểu Và những khí tiết của người trong chuyện chỉ là khí tiết của ông Đồ.

Câu trả lời của vị đạo sĩ trong Dương Từ Hà Mậu:

“Sĩ rằng: trọn đạo th́ thôi,

Người đời lo phải trau dồi tánh danh.

Trời cao đất rộng thinh thinh,

Non xanh nước biếc đă đành phui pha.

Hỏi th́ ta phải nói ra,

Ba ngàn thế giới ta là vô danh.”

Lời ngư ông trong truyện Lục Vân Tiên:

“Nước trong rửa ruột sạch trơn,

Một câu danh lợi chi sờn ḷng đây.

Nay doi, mai vịnh vui vầy,

Ngày kia hóng gió, đêm nầy chơi trăng.

Một ḿnh thong thả làm ăn,

Khỏe vai chài kéo, mệt giăng câu dầm.

Nghêu ngao nay chích mai đầm,

Một bầu trời đất vui thầm ai hay.”

Đủ tỏ rằng Nguyễn Đ́nh Chiểu là người danh không màng, mà lợi cũng không ham. Suốt đời tiên sinh chỉ giữ cho trọn đạo với một tấm ḷng trong sạch.

*   *   *

Muốn an vui trong cảnh thanh nhàn, muốn trọn đạo mà ngồi giảng năm kinh bốn truyện ở tận gốc biển chân trời, nhưng cảnh thế nào có để cho ông đồ được liên miên trong cảnh mờ ảo.

Sự đời như làn nước biển cứ cuồn cuộn từ măi nơi xa lắc, xa lơ, mà vỗ vào chung quanh cái nhà tranh vách nát. Những tiếng sóng biển ấy, như những tiếng khóc than kêu gọi một kẻ anh hùng thất thế.

Ăn làm sao nói làm sao bây giờ. Một nỗi ưu phẫn chỉ ngập tràn trong tim óc.

Giận, nên tiên sinh mới thốt ra những lời gay gắt:

“Gặp cơn trời tối thà đui,

Khỏi gay con mắt, lại nuôi đặng ḷng”.

Xem đoạn văn sau đây đủ rơ tâm hồn của tiên sinh lúc trời chiều bóng xế.

“Thà cho trước mắt vô nhân,

Chẳng thà ngồi ngó sinh dân nghiêng nghèo.

……..

Thà cho nước mắt tối dầm,

Chẳng thà thấy đất lục trầm can qua.

……..

Sáng chi theo thói tha cầu,

Dọc ngang chẳng đoái trên đầu có ai?

Sáng chi đắm sắc tham tài,

Nung ḷng nhơn dục mang tai họa trời.

Sáng chi sàm nịnh theo đời,

Nay vinh mai nhục mang lời thị phi?

Sáng chi nhân nghĩa bỏ đi,

Thảo ngay chẳng biết lỗi ngh́ thiên luân?”

(Trích Ngư Tiều vấn đáp)

Những cái tẻ ngắt buồn tanh, những nỗi đau thương sầu tủi, cứ theo tiếng tích tắc của thời gian mà gậm mà nhấm gan óc của một kẻ lỡ thời, dẫu đến lúc đầu bạc mà nhăn, vẫn c̣n đeo dính.

Người đă thấy già, sức đă thấy yếu, thế mà tin đâu đưa tới, những bạn tri âm lại cứ theo nhau chôn vùi dưới ba tấc đất với những nỗi hận ḷng.

Con mắt mờ ở cái thân khô héo, bao phen đă phải nhỏ những giọt lụy khóc kẻ anh hùng.

“Ai toan cho thấu máy trời sâu?

Sự thế nghe thôi đă lắc đầu.”

Hoặc:

“Trạm bắc ngày chiều tin điệp vắng.

Thành nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.”

Sự đă đến thế th́:

“Thôi vậy, thời vậy, thôi cũng vậy.”…

Tiên sinh đă già, cơ thể đă suy nhược, tinh thần có muốn phấn đấu cũng không c̣n sức.

“Công danh chi nữa ăn rồi ngủ,

Mặc lượng cao dày xử với dân.”

Th́ ngày hai mươi bốn tháng năm, năm Mậu Tí (3 juillet 1888) tiên sinh đă ngủ một giấc dài không bao giờ trở dậy.

Con người kín đáo, thâm thúy, đau đớn ấy, hết cả tâm sự, hết cả chí hướng có lẽ gồm trong hai câu:

“Sự đời thà khuất đôi tṛng mắt,

Ḷng đạo xin tṛn một tấm gương.”

Nó chỉ là một tiếng thở dài, không cầm hết!

Nhà họa sĩ, cầm ngọn bút lông ghi  chép, tạo ra những cảnh sắc của thiên nhiên, những cảnh sắc thâu nhập vào tâm hồn bởi hai tṛng mắt.

Thi sĩ Nguyễn Đ́nh Chiểu cũng dùng ngọn bút lông tả nỗi bi đát chan chứa trong ḷng, nỗi bi đát ngấm vào tủy năo bởi hai lỗ tai nó đă phải làm hai phận sự: thính quan và giác quan.

Những lời văn ấy nó là một bầu riêng tâm sự, nó là những tiếng nức nỡ ở cơi ḷng.

Cho nên đọc xong những đoạn văn của Nguyễn Đ́nh Chiểu, tôi buộc miệng nói ra:

“Có ai nghe tiếng không?

Tiếng người mù nức nỡ.”

Tôi đă đem tâm hồn nghệ sĩ mà để vào Nguyễn Đ́nh Chiểu. Tôi đă đem cái màu sắc, cái nhạc điệu, mà dài hơn nữa tôi đă đem những tiếng tơ ḷng của Ông Đồ mà bày giải, tiếng tơ ḷng nó không như bản đờn êm ái mà nó chẳng khác nào những tiếng gió rít trong ḷng thời gian giữa cơn phong ba băo táp.

Vậy ta thử xét cái nghệ thuật của Nguyễn Đ́nh Chiểu ra sao?

Nguyễn Đ́nh Chiểu là một nhà mỹ thuật có tài, dẫu cái tài chưa đến chỗ hoàn mỹ. V́ mỹ htuật phải chăng là sự đào tạo ra cái đẹp.

Đừng tưởng cái đẹp chỉ ở trong những cảnh huy hoàng rực rỡ. Trong một người ăn mày mù ḷa rách rưới, biết đâu rằng chẳng c̣n lại một chút hương thơm.

Cái đẹp lộng lẫy nguy nga, có cái đẹp thâm trầm êm ái. Lấy sự vui làm cái đẹp, ấy là chủ nghĩa kẻ yêu đời. Lấy sự khổ làm cái đẹp, ấy là chủ nghĩa kẻ thương đời, nhưng dẫu sao cũng là đẹp cả.

Đành rằng nhà mỹ thuật bao giờ cũng đam tài nghệ ra thờ phụng cái đep, nhưng cái đẹp có nhiều biến đổi tùy theo t́nh thế, tùy theo tính chất của mỗi người.

Cái đẹp tuyệt đích th́ không bao giờ có. Chỉ có cái đẹp hoàn toàn. Mà bên cái đẹp hoàn toàn c̣n nhiều cái chỉ đẹp về một phương diện.

Nguyễn Du là một thi sĩ đại tài, cái tài ấy là một thiên tài. Nhưng nếu Nguyễn Du chẳng ở trong cảnh ngộ éo le, vị tất cuốn Kim Vân Kiều đă xuất bản. mà bao nhiêu người cũng nếm những chua cay của sự thế, mà nào đâu những tác phẩm kiệt tác trong văn.

Cái đẹp của truyện Kiều là cái đẹp hoàn toàn. Nguyễn Du khi thờ phụng cái đẹp đă cố ư, muốn cho tác phẩm ḿnh phải đẹp cả h́nh chất lẫn tinh thần. Cho nên trong cách hành văn, tiên sinh đă như nhà họa sĩ thâu nhập từ cái lớn lao đến cái tỉ mỉ, lựa chọn, dung ḥa rồi chỉ đem vào tác phẩm ḿnh những đường uyển chuyển, những màu êm dịu, những điệu nhịp nhàng, khiến cho tác phẩm có một ḥa điệu hoàn toàn, đi tới sự hoàn mỹ.

Nguyễn Du đă đi tới mục đích.

Nguyễn Đ́nh Chiểu cùng đem tài nghệ ra thờ cái đẹp. Nhưng cái đẹp của Nguyễn Đ́nh Chiểu chỉ là cái đẹp tinh thần, cái đẹp đạo đức do nho giáo mà nẩy nở, nên luôn luôn tiên sinh đem giảng giải, cổ vơ những tam cương ngũ thường, cốt đi tới mục đích riêng ḿnh, mục đích nó hạp với ḷng người thời ấy. C̣n h́nh thức ông đă v́ cố tật hay cố ư mà nhắm mắt bỏ qua.

Sự “vụng về”, cái “lúng túng”, những chỗ “sống sượng” cũng v́ đấy mà có.

Nhưng bên cái vụng về, ta phải nhận xét những cái đẹp nẩy ở tài năng.

Các ngài muốn một vài thí dụ? Th́ đây:

“Bóng thỏ ven mây lồng đất trắng,

Gương thiềm đáy nước vẽ trời xanh”

Phải chăng là một bức tranh hoàn mỹ.

“Sao bằng một cơi an sinh,

Sông sâu vực thẳm ai giành chi ai.

Theo sông khúc vắn khúc dài,

Dăm ba sợi nhợ một vài cần tre.

Đêm trăng ngày gió bạn bè,

Vui câu hát xướng, vui ve rượu đào.”

Thật là một cảnh an nhàn thanh thú.

Ta muốn những câu văn cảm khái, trầm hùng? Tôi xin hiến:

“Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ,

Ngọn đèn khuya loe loét trong lều.”

“Năo nùng thay, vợ yếu chạy t́m

Chồng, con bóng xế dật dờ trước ngơ.”

*   *   *

“Những lăm ḷng nghĩa lâu dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ!

Một chiếc sa tràng rằng chữ hạnh, nào hay yên ngựa chở thây.”

Nguyễn Đ́nh Chiểu không lấy lối chơi văn, gọt giũa mà thờ phụng cái đẹp, tiên sinh chỉ để trong tác phẩm ḿnh hết cả tâm hồn. Cái t́nh cảm đặc biệt đă làm nẩy ra trong thi tứ tiên sinh một lối văn đặc biệt. Nếu hai mắt không mù, nếu sự đời đổi khác, biết đâu tiên sinh chẳng đi đến chỗ hoàn toàn.

Nhưng chỉ v́ chữ tâm mà văn tiên sinh được trường thọ.

Văn tiên sinh đă được các nhà văn Pháp khen ngợi.

Ư tưởng của tiên sinh được dân chúng mến yêu.

Ngày nay chúng ta c̣n mộ cái tài ấy, phải chăng cũng chỉ v́ hai chữ tâm hồn.

“Ba Tri từ vắng tiếng hơi chàng,

Gió thảm mưa sầu khá xiết than.”

*   *   *

“Người ấy v́ ai ra cớ ấy,

Chạnh ḷng trăm họ ngậm ngùi thương”.

Y SĨ NGÔ QUANG LƯ

(Nguồn: Nam Kỳ Tuần Báo số đặc biệt ngày 26-6-1943)