NGUYỄN THỊ MANH MANH

(1914-?)

Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng

 

 

 

Tác phẩm:

Nữ lưu và văn học

Viếng pḥng vắng

Hai cô thiếu nữ

Bức thư gởi cho tất cả ai ưa hay là ghét lối thơ mới

 

 

Nguyễn Thị Manh Manh là biệt hiệu, nữ sĩ thường kư tắt là Manh Manh, tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, sinh năm 1914 tại tỉnh G̣ Công (Nam phần). Con của một công chức, tri huyện Nguyễn Đ́nh Trị, tục danh Huyện Trị; ông cũng là một cây bút trong làng báo lúc bấy giờ.

Thuở nhỏ nữ sĩ Manh Manh học ở trường Áo Tím, tức trường Gia Long ngày nay. Sau khi tốt nghiệp bằng Thành chung, gặp ngay những nhát búa đầu tiên của ông Phan Khôi khai sơn phá thạch cho nền thơ mới; lúc bấy giờ nữ sĩ là phóng viên của một tờ báo ở Sài G̣n, một mặt cổ vơ cho thơ mới và sáng tác theo lối thơ phá thể, một mặt gây phong trào Nữ lưu và Văn học, đánh thức giới phụ nữ, khơi động nguồn máu văn học của các bà Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan v.v...

Ḥa nhịp, ta phải kể thêm nữ chiến sĩ, bà Phan Văn Gia, đứng lên đ̣i giải phóng phụ nữ, đ̣i nam nữ b́nh quyền. Lại nữa, cô Bùi Thị Út với thiện chí cải tạo con người phụ nữ từ bấy lâu quan niệm phải ẻo lả, mảnh mai, cô hô hào phong trào Phụ nữ Thể dục.

Đây, ta có thể coi như một thời kỳ (từ 1932), những con người từ chốn buồng the đứng ra làm một cuộc cách mạng toàn diện mà nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh đă đóng góp không nhỏ vào văn học nước nhà.

Sau cuộc khởi nghĩa 1945, khoảng 1950, nữ sĩ sang Pháp rồi không nghe tin tức ǵ cho đến ngày nay.

* * *

Giữa lúc đô thành Sài G̣n đang sống trong khung cảnh trầm lặng, đột nhiên xuất hiện trên tạp chí Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10-3-1932, một bài thơ mới đầu tiên mang tên T́nh già với lời giới thiệu của nhà " sáng tạo "Phan Khôi như sau: "Một lối thơ mới tŕnh chánh giữa làng thơ " . Lúc bấy giờ là thời kỳ hưng thịnh của báo Phụ nữ tân văn nên sức truyền bá rất rộng răi. Sau đấy, độc giả khắp ba kỳ lại biết thêm bài thơ mới thứ hai Trên đường đời (kư Lưu Trọng Lư) và thứ ba là Vắng khách thơ (kư Thanh Tâm nhưng cũng là Lưu Trọng Lư).

Sau hai bài thơ mới đầu tiên ra đời, kế tiếp là những thi bản của nữ sĩ Manh Manh, thi sĩ Hồ Văn Hảo v.v...

Lược qua, ta thấytrong hồi dậy men của nền thơ mới, nữ sĩ Manh Manh là người đàn bà đầu tiên đáp ứng tiếng gọi đàn của nhà tiên phong Phan Khôi. Nữ sĩ hết đăng thơ, viết bài, lại đăng đàn diễn thuyết hô hào phong trào thơ mới. Sự cổ vơ nồng nhiệt của nữ sĩ Manh Manh, Hoài Thanh đă không ngần ngại viết:

"Từ hai tháng trước, hôm 26 juillet 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn Thị Kiêm, đă lên diễn đàn Hội Khuyến học Sài G̣n thành lập đến bấy giờ đă 25 năm. Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng là lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe như thế ".

Trong cuộc diễn thuyết này Nguyễn Thị Manh Manh có trưng ra làm điển h́nh bài thơ mới đầu tiên của cô như sau:

 

Canh tàn

Em ơi, nghe lóng nghe
Gió đêm thoáng qua cửa ...
Lụn tàn một góc lửa,
Lạnh ngắt chốn buồng the.

Gió đêm thoáng qua cửa ...
Năo dạ dế tỉ te
Lạnh ngắt chốn buồng the ...
Em ơi, khêu chút lửa.

Năo dạ dế tỉ te
Gió ru " ... thiết chi nữa ... "
Em ơi, khêu chút lửa
Rồi lại ngồi đây nghe.

Gió ru " ... thiết chi nữa ... "
Sụt sùi mấy cành tre
Em ngồi đây có nghe
Tơ ḷng chi đứt nữa.

(Trích trong bài diễn thuyết tại Hội Khuyến học Sài G̣n ngày 26-7-1933)

 

* * *

Nối gót là những diễn giả trong nước, các ông Lưu Trọng Lư, Đỗ Đ́nh Vượng, Vũ Đ́nh Liên, Trương Tửu tổ chức những cuộc diễn thuyết với mục đích bênh vực lập trường thơ mới. Người chiến sĩ trẻ tuổi của chúng ta, cô Nguyễn Thị Kiêm hay nữ sĩ Manh Manh c̣n hăng say trong cuộc diễn thuyết tranh luận với ông Nguyễn Văn Hanh ( phái thơ cũ ) tại Hội Khuyến học Sài G̣n ngày 9-1-1935.

Thơ mới, chẳng những do cách phá thể đă làm long lở khuôn sáo xưa, mà con gieo tư tưởng lăng mạn, bộc bạch quá lộ liễu nỗi ḷng khao khát yêu đương mà bao thế kỷ nay người ta cố phong nhẹm trong thi ca. V́ thế, thơ mới vừa tượng h́nh liền va chạm ngay sức đề kháng mănh liệt của phái thơ cũ.

Đă phải xốn xang như bị đinh châm chọc vào mắt khi đọc bài T́nh già của Phan Khôi, lại c̣n gặp Viếng pḥng vắng của nữ sĩ Manh Manh, dưới nhan đề c̣n chua thêm trong dấu ngoặc:"Một lối thơ mới" (nghĩa là c̣n hứa hẹn nhiều lối nữa ) đă khiến phái thơ cũ lồng lộn điên tiết trước những ḍng phá thể của một người con gái:

Gió lọt pḥng không
Tạt hơi đông
Lạnh như đồng
Ngồi mơ tưởng
Ngày xưa phất phưởng
Dấy động tơ ḷng ...

...

Gió lọt pḥng không
Tạt hơi đông
Lạnh như đồng
Ngồi tơ tưởng
T́nh xưa phất phưởng
Ấm dịu cơi ḷng ... (1)


(1) Các bạn lưu ư đến điệu thơ và cách tŕnh bày

Cũng như bài T́nh già của Phan Khôi, Trên đường đời của Lưu Trọng Lư, những thi bản "sơ sinh" của nữ sĩ Manh Manh, ta có thể coi như những phát minh cơ khí hồi thế kỷ XIX. Nền thơ mới cũng đă trải qua bao cuộc chống đối cam go, chẳng khác nào chiếc xe hơi cổ lỗ đầu tiên đă bị xem như một quái vật kinh khủng khiến thiên hạ phải hốt hoảng chạy trốn hoặc như số phận chiếc tầu thủy đă bị những chú lái chèo đ̣ ganh tức v́ quyền lợi bị chạm, nên đập phá tan tành một sáng kiến và công tŕnh khoa học. Cái tác dụng của phát minh không phải ở sự hữu dụng cấp thời của nó, mà là sự đặt để viên gạch đầu tiên cho một nền tảng.

Cứ thế, phong trào thơ mới bành trướng nhanh chóng trong toàn quốc, và được các cơ quan ngôn luận nhiệt liệt ủng hộ. Những thi tài mới lạ xuất hiện, cấu tạo những vần thơ theo thể điệu tân kỳ, lời thơ như từ ở một tư thế đang bị nén ép, bỗng vun vút bay tuyệt mù lên bầu trời bao la của những tâm hồn vừa giải thoát. Nó là một khúc quanh bừng chói nhất trong lịch sử văn học nước nhà.

Chúng ta ngày nay nh́n lại việc qua, giữa cái cũ kỹ từ ngh́n đời sừng sững như cổ thành kiên cố; thế mà, bỗng chốc, một Phan Khôi táo bạo nổ phát súng cách mạng thi ca; người nữ chiến sĩ tiền phong anh dũng và hăng say hoạt động để bảo vệ và củng cố nền tảng thơ mới bén rễ và sống mạnh, ta phải kể Nguyễn Thị Manh Manh, một tay đă đóng góp công lao không nhỏ cho nền văn học đất nước.

Tháng 4-1968

(Trích Việt Nam Thi Nhân tiền chiến)
Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng

 

Viếng pḥng vắng

  Gió lọt pḥng không
  Tạt hơi đông
    Lạnh như đồng
      Ngồi mơ tưởng
        Ngày xưa phất phưởng
          Dấy động tơ ḷng ...
  Trải đă mấy trăng
   Hỡi nhện giăng
      Với rêu lan
      Tấm vách cũ
   Từ khi người chủ
Một giấc lặng trang.

Tan nát vóc xưa
      dưới mồ mưa
sương phủ dập ! ...
      Đến hồn nàng
   Thôi cũng bặt đàng
Biết sao được gặp ! ...

Ḥ hẹn kiếp sau
   lại t́m nhau.
      Có đặng nào ?
   Dầu có tin
      nàng sẽ tái sinh
   ở vũ trụ nào ?

* * *

Thôi duyên có bấy
nhiêu ngần ấy ! ...
Hoa để tàn
trong trương sách
hơi lây lách
Như thấm từ hàng ;

Nàng tựa đóa hoa
               mà người ta
            là quyển sách
         lật nửa chừng
      từ mỗi tờ, bừng
hương lên bay tách ...

* * *

Gió lọt pḥng không
      tạt hơi đông
    lạnh như đồng
    Ngồi tơ tưởng
T́nh xưa phất phưởng
   Ấm dịu cơi ḷng ...
 

(Phụ nữ tân văn, số mùa Xuân, 19-1-1933)

 

Hai cô thiếu nữ

Hai cô thiếu nữ đi ra đồng
(Một cô ở chợ, một cô ở đồng)
Hai cô thiếu nữ đi ra đồng,
Một mảnh lụa hồng, một vóc vải đen.

Hai cô rủ nhau đi xuống đầm
(Cô đi chân không, cô đi dép đầm)
Hai cô rủ nhau đi xuống đầm,
Bóng lụa hồng tách bóng vải thâm.

Mỗi người tay xách một giỏ mây,
Băng đi tha thướt dưới bóng nhành cây.
Mỗi người tay xách một giỏ mây,
Cô này bắt cá, cô này hái hoa...

Rồi lại rủ nhau đi về.
Một cô nhẹ nhàng, một cô nặng nề.
Rồi lại rủ nhau đi về.
Giỏ cá cũng gần kề với giỏ bông.

Gặp bà lăo khóc dựa bên đường,
Hai cô mới ngừng để hỏi tỏ tường.
Gặp bà lăo khóc dựa bên đường,
Nghe tỏ tường cả hai động ḷng thương.

Bà kia c̣n ba mụn cháu thơ,
Mồ côi cha mẹ, cùng bà bơ vơ...
Bà kia c̣n ba mụn cháu thơ,
Nhà tranh hết gạo biết nhờ cậy ai?

Cô ở đồng tay đưa giỏ cá :
" Bà ơi, cá ni bán được giá cao. "
Cô ở đồng tay đưa giỏ cá :
" Bà lấy hết đi, bán được khá tiền."

Lăo bà nước mắt đổ chan ḥa
Thốt ra mấy lời cảm ân thật thà
Lăo bà nước mắt đổ chan ḥa
Rằng: "Cô thật là tiên xuống cứu tôi."

Cô ở chợ tay đưa giỏ bông:
"Bà ơi, thứ này bán được tiền không?"
Cô ở chợ tay đưa giỏ bông :
"Nếu bà muốn bán, cho bông cháu bà."

Bà lăo cười rồi lại nói vầy:
" Ở đồng có ai mua chi thứ này"
Bà lăo cười rồi lại nói vầy:
" Cháu nhà trông gạo, bông này quản chi."

Xong mới từ hai cô mà đi ...
Cấp củm giỏ mây, buổi cơm trẻ nhi.
Xong mới từ hai cô mà đi ...
Một cô th́ lại nghĩ chi, thở dài ...

Hai cô thiếu nữ đi khỏi đồng,
Cô ở đồng bay nhẹ bổng tấm ḷng.
Hai cô thiếu nữ đi khỏi đồng.
Cô áo hồng mang nặng cái giỏ bông ...

(Phụ nữ tân văn, 1933)

 

Bức thư gởi 
cho tất cả ai ưa hay là ghét lối thơ mới (1)

Phải tôi đấy, Manh Manh, mấy bạn à!
Lâu quá không làm thơ, mấy bạn cũng "nột dạ"?
Phải, tôi đây Manh Manh, mấy ông à!
Lâu quá không làm thơ, mấy ông lấy làm lạ?...

Bạn yêu tựu hỏi nhỏ: "E...chỉ sợ?
Tội nghiệp chớ ! Người th́ trẻ nên có hơi khờ"...
Bạn ghét xúm hét to: "Á! nó sợ!
Đáng khiếp chửa ! Người th́ đẹt mà muốn vát cờ"

Nghiêng ḿnh thưa:"Hỡi các bạn quí yêu,
Ǵ mà sợ ? Nghe tôi nói nhỏ: Manh chưa "xiều"
Khoanh tay gọi:"Hỡi các ông trớ trêu,
Khoan vinh mặt, đứng ngay cho tôi tỏ mấy điều

Thật, lâu nay tôi vắng đến "làng thơ"
Các bạn ơi, không phải phụ ai mà hởn hờ,
Ừ, lâu nay tôi không có làm thơ,
Các ông ơi, không phải sợ ai mà lu lờ.

Bị lôi cuốn trong chiến trường hoạt động.
Há được ngồi không mà sấp "mấy sợi tơ ḷng".
Trước là hành động, thơ không mấy trọng,
Suốt đời nào để nghe quả tim con phập phồng!

Tuy vậy, giữa những lúc đi hăm hở,
Đôi khi tôi giựt ḿnh nhớ đến khách làng thơ.
Ừ, ḿnh nín thinh họ cho nhát dở !
Thôi, lấy " túi văn chương " vét một vài bài thơ.

Bấy lâu đành với t́nh cảm hởn hờ,
Bây giờ cần tới nó e hồn thơ không tới?
Nói chơi, chớ có ǵ đâu mà chờ,
Đây một bức thơ, thơ mới ! thơ mới! thơ mới!

...Rồi tôi thấy biết bao người rũ tới.
Vừa nghe hô thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh
Người ưa với kẻ ghét lối thơ mới,
Ưa đến nghe, ghét đến "bới" làm tôi tái xanh

...Rồi tôi nghe tiếng cười rộ lớn thêm,
Vớ được chuyện, họ cầm bút viết thôi kịch liệt!
Kẻ nghịch la:"Đả đảo! chẳng để êm!"
Bạn thích gật đầu nói:"Cái lối thơ hay thiệt"

Kết luận chuyện mới gần thành chuyện cũ
Các bạn ơi, căi với nhau thét đă nhàm rồi
Làng thơ, thơ cũ, thơ mới, có đủ:
Thơ xưa là đất cũ, thơ nay tỷ đất bồi;

Đất trước để yên, đất sau lo xới,
Đất mới th́ ít khô khan hơn đất dụng rồi.
Rủ nhau khai phá, cất thêm sở mới,
Nếu thật t́nh mong cây thơm mọc nhánh đâm chồi.

Bây giờ tôi thử khuyên khách làng thơ:
Đổi lại, ai ưa thơ mới lo t́m chỗ dở,
Ai ghét, ráng kiếm cái hay của thơ
Vậy, chê, khen, có giá trị hoa mới sẽ nở".

(Phụ nữ tân văn, số 228, ngày 14-12-1933)


(1) Sau một thời gian hô hào cổ vơ thơ mới, Nguyễn thị Manh Manh xoay qua hoạt động trong lănh vực phụ nữ, tiếng thơ v́ đó mà im hơi. Phái chống đối thơ mới cho đấy là Nguyễn thị Manh Manh đă " x́u ". Dưới đây là bài thơ " tái xuất giang hồ " của nữ sĩ để trả lời dư luận trên.

 

Bà La Fugie nhà thám hiểm và họa sĩ

 

Các anh ơi dẹp lọ, dẹp đèn, dẹp tim, dẹp móc
Để tôi dắt các anh ra mắt một người đàn bà
Một người đàn bà từng bao phen lăn lóc
Giữa tạo vật với phong ba (đây chẳng phải là “tạo vật” “phong ba” theo nghĩa bóng các anh thường than thở)
Người từng lướt đi chẳng kể nắng nung, tuyết lạnh, đất nghiêng, đá vỡ
Người ăn vận như bạn trai, ngồi lưng ngựa long chong
Mà qua đèo, xuống hố, lên dốc, lội hào
Cùng một bọn tùy tùng dân lạ, sấn đi giữa non núi ch́nh cḥng
Rồi trải qua những ngày phẳng lặng, những đêm hung giông băo …
Các anh ơi, đó là nhà thám hiểm, lại là giống đàn bà đem cái trí, cái tài, cái gan của ḿnh để phục vụ khoa học
Sống để đi kiếm trên mặt đất, những góc nào mà loài người c̣n cô độc
Những xứ tít mù xa, sống để khảo sát bao la …
Rồi mượn bút họa thần t́nh mà gộp trong mấy vuông giấy trắng thế giới bằng phong cảnh, nhân loại bằng h́nh người
Cái tài nuôi cái chí, người tự tạo người.
Ôi ! mấy bức tranh của họa sĩ là một đời in khắc!
Các anh ơi các anh chẳng có biệt tài, có chí cao, có gan lớn th́ tôi chẳng xúi các anh chuyện đi xa.
Tôi chẳng buộc các anh cưỡi ngựa vượt non băng ngàn lưu linh xứ lạ.
Chống với gió mưa vất vả, với sương tuyết, tơi tả vói băng sơn
Tôi chỉ xin các anh bẻ ống, đập đèn, liệng tim, quăng móc
Tôi chỉ cầu các anh thôi hút, bỏ dứt tật ghiền;
Các anh ưng nghe tôi chăng? Hay là:
Đang lúc tâm hồn tôi rung động v́ một bậc anh tài mới thoáng qua.
Đang lúc tôi hăm hở hát ca cái can đảm, cái khí tiết, cái hùng dũng
Của một người đàn bà; - mà các anh vẫn nằm điềm nhiên, vẫn móc, vẫn tim, vẫn hút, vẫn ghiền.
Th́ các anh ơi
Đành rằng trọn đời, trên thế giới người ta,
Các anh chẳng là đàn ông, mà các anh cũng chẳng đáng làm đàn bà.


Phụ Nữ Tân Văn, số ra ngày 20-4-1934