Một số nhận định về Phật Giáo Hoà Hảo

Một đạo giáo xuất phát từ vùng châu thổ

sông Cửu Long

Nguyễn Bạch Trúc

 

 

Phật Giáo Hoà Hảo được khai sáng từ năm 1939 trong ḍng lịch sử cận đại của dân tộc, một nền đạo quy nguyên Phật pháp, với phương thức hành đạo đơn giản, không chuộng h́nh tướng lễ mễ, rườm rà mà cốt yếu hướng về tâm, chủ trương nhập thế tích cực vào mọi phương diện của xă hội, đă nhanh chóng phù hợp với phong hoá nhân sinh vốn mộc mạc, thuần phác ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Phương thức hành đạo này khế hợp với những tinh túy trong triết lư Khổng, Lăo để h́nh thành một nền tảng giáo lư “Học Phật Tu Nhân”, tại gia cư sĩ, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Chánh pháp chân truyền của nền đạo, không chỉ thu hút đông đảo tín đồ thuần thành trong một thời gian ngắn kỷ lục của lịch sử phát triển tôn giáo, nhanh chóng trở thành một trong bốn tôn giáo lớn tại Việt Nam mà c̣n ảnh hưởng sâu rộng trong các tầng lớp xă hội bên ngoài, và là đối tượng nghiên cứu của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

Để có một tầm nh́n khách quan về Phật Giáo Ḥa Hảo, chúng tôi xin giới thiệu các bài nghiên cứu khá sâu sắc của giới trí thức là học giả, tổ chức văn hóa giáo dục thế giới, nhà văn, nhà sử học … dù chính các tác giả này chưa bao giờ là tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo. 

1-       Một h́nh thức ca dao miệt Hậu Giang, của Nhà văn Sơn Nam.

2-       Năm lư do phát triển ngoạn mục của Phật Giáo Ḥa Hảo, Minh Chi - Nhà nghiên cứu    Phật giáo. 

3-       Trích dịch từ Bộ tự điển Bách khoa uy tín nhất thế giới Encyclopaedia Britannica (Anh quốc).

4-       Trích hồi kư Nguyễn Hiến Lê, Học giả Nguyễn Hiến Lê.

5-       Nhận Thức Phật Giáo Ḥa Hảo, Trần Nguyên B́nh – Giáo sư sử học.

6-       Phật Giáo Ḥa Hảo và chủ trương chấn hưng xă hội, Phạm Cao Dương - Giáo sư sử học.

7-       Đức Huỳnh Giáo Chủ là một triết gia Việt Nam, Phạm Công Thiện – Giáo sư triết học.   

 

 

1- MỘT H̀NH THỨC CA DAO MIỆT HẬU GIANG

Nhà văn SƠN NAM

 

Ca dao là tâm ca, trường hợp của những câu sấm, câu văn ở miền biên giới Việt Miên, gần dăy Thất Sơn, Châu Đốc. Nơi đây văn minh Tây phương xâm nhập trễ và khó khăn, hồi cuối thế kỷ 19 qua đầu thế kỷ 20. Sấm văn do Phật Thầy Tây An và các giáo chủ nối tiếp trở thành kinh nhựt tụng của mọi gia đ́nh, lúc khẩn hoang nhọc nhằn ở nơi đất thấp chỉ thích hợp với giống lúa thum đưng thuở ấy và vài giống lúa sạ du nhập từ Cao Miên sau này.

Những bài sấm văn được truyền tụng, gây tin tưởng cho kẻ đang chịu nhẫn nại là được phước về sau; chịu đựng không có nghĩa là ngồi một chỗ mà chờ ngày tận thế, nhưng phải nhập thế, lo siêng năng trồng tỉa, làm tṛn phận sự với cha mẹ, với xă hội, với đất nước, với Phật, nên đọc bộ Kim cổ kỳ quan, các sách về giáo lư Phật Giáo Ḥa Hảo, của hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa để thấy rằng ca dao Miền Nam đă mang sắc thái đặc biệt, hồi đầu thế kỷ ; đă là tín đồ th́ ai cũng thuộc vài chục vài trăm câu, gặp những trường hợp khó khăn về sanh kế, về thiên tai th́ đem ra mà dẫn chứng, để lấy ḷng tin.

Chúng tôi so sánh với tâm ca không phải là quá đáng đâu. Đời xưa đă có tâm ca rồi. Phải sống trong bầu không khí miền biên giới Châu Đốc, Long Xuyên để tưởng tượng khung cảnh hồi sáu bảy mươi năm về trước. Cánh đồng Láng Linh, vùng tả và hữu ngạn kinh Vĩnh An , kinh Vĩnh Tế, vùng Cái Sắn bao la, hai bên bờ Thoại Hà. Mùa nắng là mùa khô nứt ra, đất thấp rải rác vài căn cḥi, vài con ḅ, vài cây gáo. Tận phía chân trời, hơi nóng của đất khô cằn đùn lên nối tiếp với mây trắng, trời xanh. Gần đến tiết trời sa mưa, cỏ cháy, lan dài suốt ngày đêm, khói cuồn cuộn trên nền trời xa. Lúc hoàng hôn màu lửa và màu nắng sắp tắt pha lẫn nhau, gợi h́nh ảnh ngày sắp tận thế.Và khi trời sa mưa, nước dâng lên, cỏ mọc xanh rờn, lúa cũng vươn lên, nước trong đồng ruộng và nước ngoài sông cái giao ḥa nhau, nước từ Tây Tạng huyền bí tuôn về vịnh Xiêm La, mang theo phù sa và lời tiên tri. Dăy Thất Sơn lúc nắng cháy là đồi núi, ở trong đất liền lại trở thành hải đảo. Đứng trên núi nh́n xuống, rơ ràng là bao la trời nước, là biển trần khổ. Nhà cửa, chợ phố, chim chóc, rác rến chỉ là đốm li ti, phù du ở dưới thấp. Người ở vùng xa núi, như ở hai bờ kinh Vĩnh An nối liền sông Tiền qua sông Hậu, dọc biên giới Việt Miên sống trong hoàn cảnh đơn độc, chung quanh là nước, nhà sàn là nơi cư trú tạm thời. Vật liệu kiến trúc quá đơn sơ như tre, cây tạp, lá dừa nước th́ làm sao chịu đựng nổi mấy mùa mưa nắng ? Nước dâng lên ngập sân, ngập sàn nhà và khi trời không thương xót th́ nước lên đến nóc nhà, sóng đánh ầm ầm bên vách. Con gà, con trâu, con người, cái lu, cái cối xay, cái bàn thờ ông bà chen chúc nhau trên vùng không gian nhỏ, mỗi lúc một thâu hẹp, trẻ con lội lơm bơm ôm vào một khúc chuối cây trước sân (đă hóa ra hồ ao), từ nhà này qua nhà kia phải xăn quần mà bước, hoặc phải đi xuồng. Lúa sạ lên cao, người dân ngồi chờ thời, nghề phụ không có, họa chăng là nghề câu kéo. Buổi hoàng hôn hay khi mặt trời mọc, ngồi trên sàn nhà mà câu cá, con người thấy ḿnh quá nhỏ bé, lênh đênh ! Ngoài ruộng, lúa xanh đang bị sóng dồi gió dập, rải rác vài hàng cây điên điển trổ bông vàng, xa nữa là cỏ là ruộng, rồi đến những đám mây đen bay thấp là đà, trời cao, vùng Tây Tạng, vùng Hi Mă Lạp Sơn, nước Lào, nước Miên, nước Việt Nam như nối liền nhau trong bầu không khí trầm mặc, khó hiểu. Trong thời gian rảnh rỗi nghèo túng ấy, con người thiếu phương tiện giải trí, thiếu món ăn tinh thần, sách báo không có , máy thâu thanh cũng không (hồi đầu thế kỷ măi đến năm 1950) th́ con người chỉ biết nương tựa, sưởi ấm tâm hồn bằng sấm văn. Những câu sấm văn yêu đời, giữ nước, giúp dân Việt vững tinh thần để định cư trên vùng đất đói kém, bất lợi đáng lẽ không định cư được, một vùng đất không giống phần đất nào hết trên đường Nam tiến từ Bắc vào Nam.

Mấy tiếng “nhập cuộc “, “dấn thân “, “hiện đại hóa“, được nhắc nhở trong những năm gần đây. Cách đây trên trăm năm, Thầy Đoàn Minh Huyên (đức Phật Thầy Tây An) đă nêu lên và giải quyết một cách thần t́nh, phối hợp đạo và đời, dạy tứ ân, khuyến khích điều Hiếu, điều Nghĩa, nhờ vậy mà vùng biên giới Việt Miên được bền vững, trở thành đất hoàn toàn Việt Nam mặc dầu là khó định cư. Phần đất này đă là nơi xuất phát của phong trào Cần Vương Miền Nam, với những xóm, những ông đạo mà thực dân không kiểm soát nổi. Các đảng phái mô phỏng theo h́nh thức tổ chức của Tây phương đă áp dụng kỷ luật sắt; nhưng gẫm lại không keo sơn gắn bó bằng những người cùng đạo đă noi gương Đào Viên kết nghĩa của ông Quan Vân Trường (sanh tử bất ly, hoạn nạn tương cứu), ông Thoại Ngọc Hầu, ông Lê Văn Duyệt điều khiển việc khai thông những con đường thủy chiến lược, nhưng chính ca dao - tức là câu sấm câu văn – đă giữ được nước.

Trong lịch sử kháng Pháp hồi đầu thế kỷ ở Miền Nam, làm sao quên được phong trào của ông Trần Văn Thành ở vùng Bảy Thưa? Lại c̣n cuộc khởi nghĩa của các chiến sĩ Thiên Địa Hội vào năm 1913, 1916 đột nhập SàiG̣n, Chợ Lớn, lúc thực dân Pháp đang sung sức. Phong trào Phan Xích Long chỉ là mặt nổi của Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương mà căn cứ địa là vùng Thất Sơn. Dường như người đời nay đă không ghi ơn các chiến sĩ này một cách tương xứng.

Sấm văn lưu truyền ở Hậu Giang là ca dao, là văn chương b́nh dân. Đó là luận đề lớn, để nghiên cứu. Muốn hoàn thành công việc ấy chúng ta cần để nhiều thời giờ đến quan sát tại chỗ, chọn lọc những câu sấm văn nào được lưu truyền, được nhắc nhở nhiều nhất, trong sinh hoạt hằng ngày.

Trong hoàn cảnh khó khăn, thầy Đoàn Minh Huyên đă hiện đại hóa đạo Phật, nêu thái độ dấn thân (khẩn hoang, giữ nước). Thầy và Giáo chủ Phật Giáo Ḥa Hảo nối tiếp sau này, chẳng những góp công về mặt chính trị, kinh tế để tô điểm vùng đất nghèo nàn, khó sống nhất. Công ơn mà bấy lâu nay chúng ta đánh giá không đúng mức là sự xây dựng về văn chương: đó là những lời khuyến dạy về đạo lư được diễn đạt bằng lời lẽ b́nh dân, theo văn Nôm và theo thể thơ lục bát. Nhiều đoạn trong sấm văn đă thật sự trở thành ca dao ở vùng biên giới.

 (Theo Tập san Nghiên cứu văn học, số 16 tháng 6 năm 1972)

                                                  

          

2-  NĂM LƯ DO PHÁT TRIỂN NGOẠN MỤC CỦA PHẬT GIÁO H̉A HẢO (*)

Minh Chi, nhà nghiên cứu Phật Giáo

 

Từ năm 1939 đến 1944 tín đồ Ḥa Hảo đă phát triển lên đến 5 triệu người. Con số 5 triệu tín đồ xuất xứ ở đâu, có đáng tin cậy không ?

Chúng ta đặt nghi vấn là phải. Bởi lẽ ngay các con số thống kê tín đồ các tôn giáo lớn trên thế giới, mặc dù in thành sách trong các tự điển bách khoa tôn giáo, như cuốn “Word Chrishan Encyclopedia”(Tự điển bách khoa Kitô giáo thế giới) do Oxford  xuất bản,hay cuốn “Dictionaire des Religions “của Paul Poupart xuất bản, cũng đều bị các học giả đặt nghi vấn. Lư do dễ hiểu, niềm tin tôn giáo là chuyện sâu kín trong ḷng mỗi người, khó mà thống kê chính xác, chỉ có thể thống kê đại khái với sai số hàng vạn, thậm chí hàng triệu.

C̣n con số 5 triệu tín đồ Ḥa Hảo, tôi trích trong cuốn “Print and power “(In ấn và quyền lực) của tác giả Shawn Frederick Mc Hale, đại học Hawai xuất bản, trang 4. Hơn nữa trong con số 5 triệu, phải kể cả tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương, đă từng đi theo Phật Thầy Tây An, Đức Phật Trùm, ông Sư Văi bán khoai v.v…

Nhưng phải đến khi Huỳnh Phú Sổ bắt đầu truyền đạo, con số tín đồ mới tăng vọt.

Vào năm 1939, Huỳnh Phú Sổ lúc bấy giờ c̣n là một thanh niên 19 tuổi, tự tuyên bố ḿnh là giáo chủ ; là phái viên của đức Phật ở cơi đời này, kêu gọi mọi người sống thiện và tin theo tôn giáo của ông rao truyền.

Trong bài này, tôi chỉ nói lên điều tâm đắc của tôi về “Sự thành công ngoạn mục của một tôn giáo - Đạo Phật Giáo Ḥa Hảo “do Huỳnh Phú Sổ đề xướng năm 1939, khi ông c̣n là thanh niên 19 tuổi, chỉ không đầy 5 năm, tức năm 1944 đă đạt con số tín đồ 5 triệu. Tài liệu nước ngoài và trong nước đều nhất trí xung quanh con số 5 triệu.

Câu hỏi “Nguyên do ở đâu”. Câu hỏi đă nhận được nhiều câu trả lời mà tôi xin phép khái quát lại như sau:

 

1- Khéo khai thác truyền thống kể chuyện miệng bằng thơ ở Nam bộ:

Một lư do là đạo Hoà Hảo biết khai thác – có thể là một cách tự nhiên, không cố ư - truyền thống kể chuyện miệng của đồng bằng miền Tây Nam bộ. Phải chăng, với một quần chúng đa số là nông dân ít học, lối truyền giáo bằng thi ca, bằng vè là thích hợp nhất, bởi v́ dễ nghe, dễ nhớ.

Tôi trích dẫn dưới đây một vài vần thơ do ông Huỳnh Phú Sổ sáng tác và được lưu hành rộng răi :

“Non sông rực rỡ chói ngời

Mảnh gương Phật đạo soi đời cổ kim”

“Theo đ̣i gương phẩm Thích Ca

Dốc đem tâm chí t́m ra đạo mầu “

“Ta thừa vưng sắc lệnh Thế Tôn

Khắp hạ giới truyền khai đạo pháp“

Người ta nói Huỳnh Phú Sổ ít học (chỉ đến bậc tiểu học). Nhưng các bài sấm vè của ông dùng rất nhiều từ Hán Việt, từ Phật học, chứng tỏ một tŕnh độ Phật học cao, một sự vận dụng kho từ Hán Việt phong phú. Đó lại là một ẩn số nữa của Huỳnh Phú Sổ.

 

2- Đạo Hoà Hảo tuy về mặt giáo lư, chủ yếu dựa vào đạo Phật, nhưng về mặt tổ chức lại chịu ảnh hưởng của phương Tây:

Thí dụ Ḥa Hảo thành lập đảng chính trị, sử dụng phương tiện in ấn để truyền đạo. Sử liệu đạo Ḥa Hảo cho biết, từ năm 1939 đến 1965, nhiều bài giảng của Huỳnh Phú Sổ tái bản hơn 200 lần, với tổng số bản in là 800.000 bản.  Phải chăng đây là một lư do nữa giải thích sự thành công nhanh chóng và ngoạn mục của đạo ?

 

3-Mùi vị “tận thế “(Apocaliptic) của giáo lư được rao giảng:                     

Huỳnh Phú Sổ tưyên bố nhân loại đang ở trong thời kỳ : “Hạ ngươn “là kỷ nguyên của tội ác hoành hành, chiến tranh liên miên, thiên tai dồn dập, bệnh dịch cùng khắp. Huỳnh Phú Sổ viết “Thiên tào đă xét định, khắp chúng sanh trong thế giới, trong cái buổi Hạ ngươn này, say mê vật dục, ch́m đắm trong biển lợi danh gây nên nghiệp quả, luật trời đă trị tội v.v…”(Xem “Tôn chỉ hành đạo Phật Giáo Ḥa Hảo của Đức Huỳnh Giáo Chủ “, trang 7, NXB Tôn giáo, 2002).

Đúng như vậy, thời kỳ Huỳnh Phú Sổ bắt đầu truyền giáo là thời kỳ bắt đầu cuộc đại chiến thế giới thứ hai, với những tổn thất nhân mạng và tài sản không kể xiết. V́ là một cuộc đại chiến thế giới , cho nên Việt Nam lúc bấy giờ là thuộc địa và xứ bảo hộ của Pháp, cũng bị họa lây và trở thành chiến trường xung đột giữa Pháp và Nhật, trở thành hậu phương góp công cho cuộc chiến tranh Đại Đông Á do đế quốc Nhật khởi xướng. Nạn đói khủng khiếp làm hơn hai triệu người Việt Nam chết năm 1945 là con đẻ của t́nh h́nh này .Trong một thời kỳ nhiễu nhương, tội ác, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, đói kém, dân chúng khốn khổ lầm than như vậy, th́ lời kêu gọi của giáo chủ Ḥa Hảo, mang h́nh thức sấm truyền, tất nhiên là có một sức hấp dẫn đặc biệt. Nhưng theo chúng tôi  nhận định 3 lư do trên là lư do phụ. Hai lư do 4 và 5 là chủ yếu.

 

4- Phật Giáo Ḥa Hảo coi nhẹ h́nh thức, bồi dưỡng đức tự tin ở bản thân, đơn giản hóa nghi lễ, coi trọng lối hành đạo gần gũi dân chúng, đặc biệt là dân chúng nghèo

Huỳnh Phú Sổ đích thân chữa bệnh - kể cả những bệnh hiểm nghèo mà theo sử liệu để lại, ông đă thành công trong nhiều trường hợp. Ngày nay, với nền y học hiện đại, với những thành tựu mới, vang dội về khoa chữa bệnh bằng tâm lư (Psycho therapy), phải thừa nhận ảnh hưởng lớn của trạng thái tâm lư người bệnh đối với việc chữa bệnh. Trong cuốn “Con người, một ẩn số “(L’Homme, cet inconnu “), tác giả bác sĩ Carrel (giải thưởng Noben) đă nêu một số trường hợp do ông đích thân quan sát người mắc bệnh hiểm nghèo đă được chữa khỏi bệnh, chỉ dựa vào niềm tin và cầu nguyện mà thôi. Đấy là những chuyện cá biệt, nhưng có thực, xảy ra không phải riêng cho Thiên Chúa giáo mà cho nhiều tôn giáo khác.

Nhưng ở đây, chúng ta đang nói về Phật Giáo Ḥa Hảo. Thành công ngoạn mục của đạo Ḥa Hảo, trong một thời gian ngắn, từ 1939 đến 1944 đă đưa con số tín đồ lên 5 triệu, không phải chỉ ở nội dung giáo lư dễ hiểu, h́nh thức giáo lư dễ thực hành, mà c̣n ở tác phong của người truyền giáo nói và làm đi đôi, lư thuyết và thực hành nhất trí. Một tác phong mà trước Huỳnh Phú Sổ, các lănh tụ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có liên quan mật thiết với đạo Ḥa Hảo đă làm rồi như Phật Thầy Tây An, đức Phật Trùm, Sư Văi bán khoai.

Nói một cách khác, các lănh tụ truyền giáo Ḥa Hảo không phải chỉ rao giảng giáo lư của họ, mà toàn bộ cuộc sống của họ là hiện thân của giáo lư đó, không những họ giảng ḥa hiếu mà thực sự họ sống ḥa hiếu, và khi họ giảng và sống ḥa hiếu, họ tin là quần chúng tín đồ đi theo họ, đều muốn và sống ḥa hiếu như họ. Hăy hỏi : Ai dù là tín đồ hay không phải tín đồ Ḥa Hảo, ai lại không muốn sống hiếu thuận với ông bà tổ tiên, ai lại không muốn sống ḥa hài đoàn kết với hàng xóm, láng giềng, bè bạn ? Phải chăng, một bí mật của sự thành công ngoạn mục của đạo Ḥa Hảo là các nhà truyền giáo của họ đă rao truyền một giáo lư mà cả đời họ là hiện thân sống động : Cái ǵ họ nói là họ sống, họ làm ; cái ǵ họ làm họ sống th́ họ mới nói, theo đúng phương châm “Ngôn hành hiệp nhất “của triết gia Vương Dương Minh đời Tống, tuy rằng họ có thể không biết  Vương Dương Minh là ai.

Họ có thể không biết Vương Dương Minh là ai, nhưng giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, tự tuyên bố ḿnh là đệ tử của Phật Thích Ca rất có thể đă ghi ḷng tạc dạ lời Phật Thích Ca giải thích Như Lai, tức Phật là ǵ ?

 “Này các Tỳ kheo, Như Lai nói ǵ làm vậy, làm ǵ nói vậy. Ví rằng nói ǵ làm vậy, làm ǵ nói vậy, nên được gọi là Như Lai “(Tiểu Bộ kinh, tập 1, bản dịch của HT. Thích Minh Châu, trang 509).

Trong sách Phật giáo, có từ thân giáo, nghĩa là lấy tự thân ḿnh làm gương sáng giáo dục cho người khác. Không những các lănh tụ như Phật Thầy Tây An và đức Huỳnh Phú Sổ thực hành như vậy, mà mỗi tín đồ Ḥa Hảo đều làm như vậy. Họ đều thực hành thuyết bốn ân, sống ḥa hiếu với cha mẹ, tổ tiên,  hàng xóm láng giềng v. v … Họ truyền đạo không chỉ bằng lời nói, mà bằng cuộc sống cả đời họ, cuộc sống hằng ngày của họ. Phải chăng nhờ đó mà đạo Ḥa Hảo lan truyền rất nhanh từ năm 1939.

 

5- Kết luận:

Sự thành công ngoạn mục của Phật Giáo Ḥa Hảo, chủ yếu c̣n  ở chỗ, từ tiền thân của nó là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cho nên năm 1939,khi với Huỳnh Phú Sổ, nó mang tên chính thức Phật Giáo Ḥa Hảo - tức là Phật giáo ở làng Ḥa Hảo, luôn luôn các thế hệ giáo chủ đều khẳng định “cốt lơi giáo lư của đạo Ḥa Hảo chính là giáo lư của Phật Thích Ca tuy cội nguồn ở Ân Độ, nhưng đă được truyền  đến nước ta vào những năm đầu Công nguyên, tức là một tôn giáo có truyền thống hơn 19 thế kỷ của một đạo dân tộc, ḥa vận mệnh của ḿnh vào vận mệnh của dân tộc, đến mức thi sĩ cận đại Hồ Dzếnh có câu thơ : 

“Trang sử Việt

Đồng thời là trang sử Phật

Trải qua bao độ hưng suy

Có nguy mà chẳng mất “

Hay là hai câu thơ của thi sĩ Huyền Không :

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.

 

Thơ ca có phần thi vị hóa thực tế. một phần nào huyền thoại hóa thực tế, nhưng cốt lơi của thực tế vẫn được bảo tồn, cùng với bản sắc dân tộc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào buổi tiếp đoàn đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam sau ngày mới thành lập (1981), có nói một câu mà không rơ v́ sao báo chí lúc bấy giờ không nhắc tới : “Trong bụng người Việt Nam nào cũng có ông Phật “. Phật giáo Ḥa Hảo tự nhận ḿnh là kế tục đạo Phật, 

Không có một tín đồ Ḥa Hảo nào phủ nhận sự kiện này, trái lại c̣n lấy đó làm tự hào. Cuốn “Để hiểu Phật Giáo Ḥa Hảo “của Thanh Sĩ và Vương Kim, in ngay ở trang b́a 4 câu thơ :

Phật xuất An Giang đủ phép mầu

Giáo truyền Phật Thích rất cao sâu

Ḥa trong sanh chúng gieo điều thiện

Hảo ư đưa về kiến Bửu Châu

 

Quan hệ giữa đạo Phật nói chung và Phật Giáo Ḥa Hảo nói riêng trên b́nh diện giáo lư và thực hành là một đề tài rộng lớn, không thể bàn ở đây. Chúng tôi chờ đợi ở quư học giả của Phật Giáo Ḥa Hảo một công tŕnh khoa học có tầm cỡ về chủ đề này.

___________________________

 (*)  Trích trong Tạp chí Xưa & Nay, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam,

số 214 tháng 06 năm 2004 .

 

 

3 - TRÍCH DỊCH TỪ BỘ TỰ ĐIỂN BÁCH KHOA UY TÍN THẾ GIỚI BỘ

Encyclopaedia  Britannica - Anh Quốc

 

Huỳnh Phú Sổ là một triết gia Việt Nam, là người chủ trương chấn hưng Phật giáo và là người sáng lập đạo Phật Giáo Ḥa Hảo năm 1939.

Ông bắt đầu thuyết giảng về sự chấn hưng nền Phật giáo, chủ trương sự quay trở lại tinh thần Phật giáo nguyên thủy (Thượng tọa phái : Đạo của những người đă có thành quả tu tập) và nối kết với tư tưởng đại thừa thịnh hành khắp Việt Nam, Ông đề cập sâu đến cách sống mộc mạc, bền bỉ, cùng h́nh thức thờ cúng đơn giản và sự tự giải thoát. Đạo Phật Giáo Ḥa Hảo là một sự kết hợp giữa đạo Phật và truyền thống thờ cúng  Tổ tiên cùng với những nghi thức nuôi dưỡng đời sống tâm linh, cùng những tinh tuư của Khổng giáo và những sinh hoạt thực tiễn phù hợp bản xứ người Việt Nam.

Bằng lời nói của ḿnh, Ông có khả năng cuốn hút thính gỉả một cách mănh liệt và được biết đến dưới danh hiệu Ông “Đạo Khùng “. Ông đă tiên đoán chính xác sự thất bại của Pháp trong thế chiến thứ hai và sự xâm chiếm của người Nhật ở Đông Dương.

Sự thành công của Ông trong vai tṛ một vị Giáo chủ đă khiến cho những người tín đồ gọi Ông là Phật Sống.

----------------------------------------

Nguyên văn bản tiếng Anh, nguồn Website :  www. Britannica. com. Inc.

Huynh Phu So, Vietnamese philosopher, Buddhist reformer, and founder (1939)

of the   religion Phat Giao Hoa Hao.

He set about preaching Buddhish reform, advocating a return to Theravada (Way of the Elders) Buddhism, from the Mahayana (Greater – Vehicle) form prevalent in Vietnam, and stressing austerity, spartan living, simple worship, and personal salvation. Hoa Hao is an amalgam of Buddhism, ancestor worship, animistic rites, elements of Confucian doctrine, and indigenous Vietnamese practices.

In speaking, he exerted an almost hypnotic influence over his audiences and became known as Dao Khung (Mad Monk). He predicted with accuracy the fall of France in world war 2, the Japanese invasion of Indochina …

His success as a prophet led his followers to call him the Phat Song (Living Buddha).

 

          

4 - TRÍCH HỒI KƯ CỦA HỌC GIẢ NGUYỄN HIẾN LÊ

Nguyễn Hiến Lê  (*)

 

Hai anh Tân Phương và Việt Châu (**) đều như tôi rất mừng khi Nhật đổ bộ lên Sàig̣n, mong Nhật đuổi Pháp đi, nhưng không thích ǵ Nhật, không học tiếng Nhật. Tân Phương không làm chính trị, mà Việt Châu cũng vậy, nhưng Việt Châu không nhớ do một cơ hội nào được nghe Thầy Tư Ḥa Hảo (tức Huỳnh Phú Sổ) xuất khẩu thành thi, lấy làm lạ, nhất là thấy Thầy như có một ma lực ǵ kỳ dị, thu phục được rất nhiều người, nên từ ngạc nhiên sinh ra ngưỡng mộ.

Việt Châu bảo tôi : “Con người đó thật kỳ dị. Mỗi ngày ngồi xe hơi đi mấy trăm cây số, diễn thuyết hai ba nơi, mỗi nơi nói thao thao bất tuyệt trong hai, ba giờ ở giữa trời, trước một đám đông nông dân hằng ngàn người, ai nấy im phăng phắc như nuốt từng lời một, có kẻ khóc mướt nữa. Có lần đương diễn thuyết th́ trời đổ mưa, Thầy Tư vẫn nói mà dân chúng vẫn đứng nghe dưới mưa. Lần nào diễn thuyết xong rồi cũng lên xe đi nơi khác liền, không thấy mệt nhọc, vẫn ung dung làm thơ. Mà ăn rất ít, toàn đồ chay. Sinh lực sao mà dồi dào thế ! Sức lôi cuốn, thôi miên quần chúng sao mà mạnh thế “

Tôi cũng rất ngạc nhiên, cho là một dị nhân, và tôi bỗng nhớ tới Raspoutine  thời Nicolas 2 ở đầu thế kỷ, nhưng không nói ra. Raspoutine cũng có sức mạnh phi thường, cũng c̣ tài thôi miên, nhưng đời sống bê bối, h́nh dáng ghê tởm, rơ là một nhân vật bất thường, c̣n Huỳnh Phú Sổ th́ ai cũng phục là người nghiêm trang, đạo đức.

----------------------------------

 (*) Hồi kư Nguyễn Hiến Lê, Nhà xuất bản Văn Học 1997.

 (**) Tức Nguyễn Xuân Thiếp, Nhà thơ bút hiệu Việt Châu, người gốc Hà Tây, là anh của Học giả Nguyễn Hiến Lê, và là một đệ tử trung thành của đức Huỳnh Phú Sổ.

 

 

5 - NHẬN  THỨC  PHẬT  GIÁO  H̉A  HẢO  (*)

           Trần Nguyên B́nh,  Giáo Sư Sử học

 

Phật Giáo Ḥa Hảo hưởng ứng lời kêu cứu thiết tha của lịch sử dân tôc và lịch sử loài người đứng ra nhận lănh một sứ mạng. Sứ mạng đó là vơ trang tinh thần cho ṇi giống để chặn ngăn mọi luồng tư tưởng tà nguỵ từ bốn phương tám nẻo tràn vào, rồi đứng lên trên cái ưu thế của dân tộc Việt đă được giác ngộ qua cơn khói lửa triền miên, mà thiết lập một “niết bàn nơi hạ giới  “cho loài người.

Muốn hiểu rơ sứ mạng đó phải thực hiện ra sao, chúng ta cần trở lại dĩ văng cách đây 100 năm, để xem tất cả những sức lực chính trị kinh tế, văn hóa nó đă đè nén xă hội Việt như thế nào.

Khi nước ta tiếp xúc với Tây phương, th́ cái văn hóa bệnh hoạn thời Nguyễn không đủ sức kháng cự với cái văn hóa đại kỹ nghệ, đại thương mại đương tích cực t́m đường phát triển ra bên ngoài, đặc biệt vào Châu Á và Châu Phi. Văn hóa thời Nguyễn chỉ là văn hóa vụ h́nh thức, rỗng tuếch về nội dung. Đa số các nhà Nho không nuôi chí học những thứ ǵ cần thiết cho dân tộc, đất nước mà chỉ cốt gọt giũa câu văn cho óng chuốt, câu thơ cho điêu luyện, hợp điệu hợp vần và gác ngoài tai, không chịu t́m ṭi nghiên cứu tất cả những biến chuyển bên ngoài quốc tế.

Một Nguyễn Trường Tộ không đủ uy thế cảnh tỉnh cả một triều đại thối nát. Con người sống chỉ c̣n v́ cá nhân ḿnh, v́ gia đ́nh ḿnh mà không c̣n v́ quốc gia dân tộc nữa. Bè phái tông tộc,hương đảng tranh giành khuynh loát lẫn nhau. Ở triều đ́nh, người ta thi nhau mua quan bán tước, ở thôn xă th́ tranh giành chiếu trên chiếu dưới, thủ lợn phao câu.

Đó là đời sống chính trị của quốc gia, c̣n trên phương diện kinh tế th́ vẫn là thứ nông nghiệp cổ hủ muôn xưa, vẫn cái thứ thương mại chật hẹp, gà què ăn quẩn cối xay. Văn học đó, chính trị đó, kinh tế đó đă khiến cho quốc dân sống thiếu chỉ nam, không c̣n tiềm lực đấu tranh tự vệ.

Trong hoàn cảnh đó quân Pháp đến nước ta. Chúng ta có thể đoán ngay rằng thế nước không thể nào giữ được. Một ít phát súng đại bác là quân địch hạ được thành. Những vị anh hùng chỉ c̣n biết tuẫn tiết để khỏi sống trong cái nhục mất nước. Rồi khi quân Pháp đă đặt được nền móng đô hộ, xă hội lại càng thối nát thêm.

Dân chúng sống trong mê tín dị đoan. Nơi góc tường này, dưới gốc cây đa kia, người ta thấy nhan nhăn những bàn thờ ông thần, bàn thờ bà chúa. Ốm đau người ta không lo chạy chữa thuốc thang, mà chỉ lo đi cúng đền này phủ nọ, xin tàn hương nước thải về uống, hoặc lập đàn cúng kiếng rước thầy bùa ếm quỷ ếm ma. Có việc khó khăn, người ta không nghiên cứu lẽ thành bại, mà lại đi coi bói toán, hay đi xin quẻ xin xâm. Rượu chè cờ bạc đàng điếm hoành hành khắp nơi. Người ta ca ngợi những ai tiền nhiều bạc lắm, ngày tháng rong chơi, ăn xài lớn. Tất cả những thứ đó, người Pháp  không làm ǵ để bài trừ, lấy cớ họ là dân chủ, không xen vào đời sống riêng tư vào những tục lệ cổ truyền của dân “bản xứ “. 

Nguy hiểm và độc địa hơn nữa là họ đem nước ta cắt ra làm ba khúc, dưới cái danh hiệu ai oán và nực cười là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Mỗi nơi có một nền hành chánh khác nhau để cho sự khác biệt giữa cá tính địa phương (nước nào chẳng có ?) mỗi ngày một sâu đậm hơn. Những xu hướng Nam kỳ tự trị hay Nam kỳ quốc đều là hậu quả của chính sách độc ác chia để trị của thực dân. Hoàn cảnh bi đát ấy của đất nước lồng môt hoàn cảnh quốc tế rất bấp bênh trước một viễn ảnh sắp đổ vỡ tan tành, có thể chôn vùi cả nền văn minh nhân loại. Đó là viễn ảnh thế chiến thứ hai.

Để cứu văn t́nh thế của nước ṇi, rộng ra cứu vớt loài người. Phật Giáo Ḥa Hảo ra đời, với sứ mạng đem đuốc từ bi đốt cháy mọi mê lầm để dẫn dân Việt từ chỗ đại bi đến đại giác, đứng lên làm cách mạng bằng một đại hành hoàn thành đại đạo cho toàn dân.

Sứ mạng thật nặng nề, khó khăn, nhưng cũng thật cao cả. Chúng ta hăy lắng tâm tỉnh trí, mở các tập Thi Văn Sấm Giảng ra, thắp nén hương ḷng lên mà đọc, đọc với tất cả tấm ḷng tha thiết thương yêu ṇi giống, thương yêu nhân loại, chúng ta sẽ thấy ở đây những ǵ cần phải học, cần phải biết, những ǵ cần phải cứu vớt, cứu vớt lấy bản thân chúng ta đang ch́m đắm trong hôn mê, trong ngơ lợi đường danh, cứu vớt lấy dân tộc đang phân hóa một cách ghê sợ do những tư trào quốc tế tràn vào xung đột lẫn nhau, để rồi, tiến lên góp phần với mọi cá nhân tiến bộ, mọi tổ chức tiến bộ, mọi quốc gia tiến bộ trên thế giới mà cứu vớt loài người đương đứng trên bờ vực thẳm, có thể v́ một giây điên khùng mà tự tiêu diệt bằng đủ loại vũ khí hạch tâm.

Phật Giáo Ḥa Hảo ra đời với một sứ mạng cứu vớt. Vậy sự cứu vớt đó khai triển như thế nào, bắt đầu từ đâu để rồi chấm dứt ở nơi đâu ?

Trong hoàn cảnh đất nước sống quằn quại  dưới gót sắt của thực dân Pháp, những người hơi tỏ ra yêu nước thương ṇi là bị thực dân kiềm chế hoặc bắt tù đày, giam cầm ; c̣n đa số quốc dân trí thức đuổi theo danh lợi lăng quên sự nghiệp tổ tông. Khối dân quê đông đảo nhất, thuần phác nhất, giữ được nhiều đức tính của dân tộc nhất th́ lại dốt nát, sống cơ cực làm chẳng đủ ăn, không người lănh đạo. Mà chính khối dân quê này trong suốt ḍng lịch sử đă là chủ động cho mọi cuộc phục hưng dân tộc. Những cuộc cách mạng Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Quang Trung đều do nông dân hoàn thành bằng cách cung cấp nhân lực, vật lực, tài lực.

Cho nên cứu vớt ǵ th́ cứu, nếu không chú trọng đến nông dân th́ chỉ là làm cái công việc của dă tràng xe cát. V́ lư do đó mà Phật Giáo Ḥa Hảo xuất hiện ngay trong ḷng nông dân để giác ngộ họ, giúp họ tiến lên tự giải thoát lấy ḿnh, giải phóng dân tộc rồi góp phần vào công việc giải thoát loài người.

V́ Giáo chủ là người sinh trưởng ở nông thôn đă đau khổ cái đau khổ của nông dân, ước ao và hy vọng cái ước ao hy vọng của nông dân, nên mới hiểu được họ, cảm hóa được họ.

Sau hơn nửa thế kỷ sống dưới triều Nguyễn, một triều đại đă xao lăng cái căn bản tinh thần của ṇi giống,sau ngót trăm năm Pháp thuộc, ḷng người dân tựa đống tro tàn trong mùa gió lạnh, họ sống không có chỉ nam, mất tin tưởng ở bản thân ḿnh, ở dân tộc ḿnh, trước sự tràn lan của nền văn minh vật chất Tây phương. Bởi vậy, việc cần thiết là phải gây cho họ ḷng tin ở tự ḿnh, ở dân tộc ḿnh bằng cách phác vẽ cho mọi người một lư tưởng nhân sinh, một lư tưởng sống.

Lư tưởng đó là lư tưởng Phật Giáo Ḥa Hảo, một lư tưởng tổng hợp cả ba luồng tư tưởng lớn nhất ở Châu Á là Phật giáo, Khổng giáo và Lăo giáo.

Từ Đinh qua Lê, Lư, Trần, ba luồng tư tưởng này đă ảnh hưởng rất lớn đến nhân sinh và kiến quốc của dân Việt, ngày nay chỉ cần hiện đại hóa bằng tinh thần khoa học Tây phương, tinh thần từ bi bác ái của nhà Phật, tinh thần nhân thứ của Khổng Tử, tinh thần tiêu dao không màng danh lợi của Lăo Tử, được phô diễn trong những lời vàng ngọc,khi th́ như hiệu lệnh, khi th́ như nhắn nhủ khuyên răn, khi th́ như cảnh cáo, thấy bàng  bạc khắp trong Thi Văn Giáo lư của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Trên cái căn bản tinh thần đó, một chủ trương cách mạng khắp các mặt được ngấm ngầm đề ra, mới coi thể như rời rạc, lập đi lập lại, nhưng tinh ư th́ thấy ngay cả một chủ trương vĩ đại của một vị cứu thế muốn dùng văn thơ đi thẳng vào ḷng người. Phác vẽ cho mọi người thấy cái cảnh khổ năo của xă hội Việt và xă hội nhân loại, rồi giác ngộ họ t́m đường giải thoát. Đó là chủ trương đại bi đại giác. Từ chỗ giác ngộ đó, khuyên răn ai nấy phải lo làm tṛn bổn phận làm người để cứu lấy thân ḿnh, gia đ́nh ḿnh, quốc gia dân tộc ḿnh hầu hoàn thành cho dân tộc, cho loài người một đời sống bác ái tự do. Đó là chủ trương đại hành và đại đạo.

Đi vào chi tiết ta sẽ thấy Phật Giáo Ḥa Hảo chủ trương cải tạo tôn giáo, cải tạo tâm lư, và cải tạo xă hội để rồi gây một tin tưởng lớn vào ḷng người ở tương lai.

Vấn đề thực là quan trọng. Giữa thế kỷ 20 mà dân Việt nhất là nông dân sống trong một màn dầy đặc mê tín và dị đoan. Nhiều người đi chùa chỉ hiểu mang máng rằng nếu năng tới lui lễ bái, dâng cúng lễ vật bạc tiền, th́ được phước, ngược lại th́ gặp tai ương. Đa số có hiểu đâu rằng cốt tượng chuông mơ chỉ là h́nh tượng giúp cho con người dễ tập trung tư tưởng mà suy gẫm về nền giáo lư, có nó là để nhắc nhở con người tu khỏi xao lăng việc tu hành. Nó chỉ là phương tiện, chứ không phải là cứu cánh. Phải giác ngộ cho mọi người hiểu cái yếu lư của tu hành : giữ sao cho tâm linh được luôn luôn yên tĩnh, đừng để cho ḷng dục sai khiến, nhất là khi một ḿnh ḿnh đối diện với ḿnh. Phải xét nét xem ḷng ḿnh niệm ma hay niệm Phật. Ma là vẩn đục, là gian ác. Phật là sáng suốt, hiền hậu, từ bi.

Một nhà Nho xưa kia mỗi ngày xét ḿnh ba lần để xét xem tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi của ḿnh có chi phải, có chi quấy, ngày nay người đời c̣n truyền tụng ngợi khen. Nhưng lối tu của nhà Phật từng buộc nhà tu xét nét mọi sát na (đơn vị nhỏ nhất của thời gian ước vào 1/ 1.000.000 cái nháy mắt), phải giữ cái tâm cho tụ, không thể để cho tư tưởng chờn vờn như con bướm bay từ hoa nọ đến hoa kia. Đó là điều cốt yếu, c̣n cúng lạy chỉ là phương tiện giúp thêm cho sự tu tĩnh sửa ḿnh mà thôi :

Tu không cần lạy cần quỳ,

Ngồi đâu cũng sửa vậy th́ mới mau.

Hai câu gỏn gọn 14 chữ đủ nói lên hết cái cách mạng về tu hành của Phật Giáo Ḥa Hảo, thiết tưởng ta không cần quá dài ḍng cho lắm, nhiều lời thêm nữa, e làm giảm cả cái cô đọng mà bao quát của 14 chữ đi.

Sau việc cải tạo tôn giáo là cải tạo tâm lư. Trong thời gian Pháp thuộc, tâm lư dân Việt bị băng hoại, người ta bon chen danh lợi, sống độc thiện kỳ thân, ích kỷ, giả dối, không chỉ hướng và nhất là không nghĩ đến nước ṇi, mà chỉ :

Sớm lo ḷn cúi chiều ăn ngủ,

Nào biết liệu toan gỡ nợ nần.

Bởi vậy việc cần thiết là phải hun đúc cho họ có một chí quyết hiểu biết và quyết làm, Về tu niệm, phải làm sao cho họ có một đức tin trong sạch, nhưng tin không phải là mù quáng mà là đức tin được hướng dẫn bởi ḷng lành và soi sáng bằng trí tuệ. Có như thế, mới khỏi mắc vào mê tín dị đoan, hầu vững tâm tiến bước. Về bổn phận đối với tổ tông đất nước, phải làm sao cho ai nấy nuôi một chí hướng sắt đá là :

Sống làm sao vẹn chữ tu mi,

Sống vùng vẫy râu mày nam tử.

Và luôn luôn vững ḷng vững dạ, không v́ những lời phê phán bất chính của những kẻ tiểu nhân gièm pha mà bỏ việc dở dang.

Đấng anh hùng dựng nên thời thế,

Sá chi loài trùn dế nhỏ nhen.

Khi chí lập rồi, th́ phải t́m cách mở mang trí tuệ, mới mong hiểu biết mối đạo của ḿnh đang theo đuổi. Đạo đây phải hiểu là một thể, làm thống nhất, đem hiểu biết giác ngộ ra mà làm việc đời. Phải đọc kinh sử, lấy bài học của người xưa làm kinh nghiệm cho công việc ngày nay, công việc ngày nay không thể tách rời ra khỏi ḍng sông lịch sử xưa kia được, nếu ta muốn lập cho đất nước một sự nghiệp của Thánh hiền :

Đời phải biết suy kim nghiệm cổ,

Thông cơ đồ dựng nghiệp Thánh hiền.

Có như thế mới mong đem được cái đạo của ḿnh ra giúp cho dân tộc thịnh trị, giúp cho loài người thoát khỏi bến mê đi về bến giác.

Đến vấn đề trau giồi t́nh cảm cũng là một vấn đề trọng yếu. Nếu ta không làm chủ được t́nh cảm của ta, cứ để cho t́nh cảm tự do phóng túng th́ chương tŕnh kế hoạch của ta có tốt đẹp, có khoa học chăng nữa, th́ cũng không giúp ta làm nên nổi tṛ trống ǵ ! Đức Huỳnh Giáo Chủ khuyên răn tín đồ của Ngài phải đem cái ư chí sắt đá ra mà rèn luyện t́nh cảm.

“Phải điêu luyện khối tinh thần cho mạnh mẽ đặng tự lập con đường rơ ràng duy nhất của mối đạo ḿnh đang theo đuổi để lấy đó làm cương mục mà bài trừ những thành kiến, cố chấp thói quen, sự chần chờ, ḷng ham muốn, tánh kiêu ngạo, tật đố, gièm xiểm dua nịnh, ích kỷ, tư tâm, sự mê đắm trong bể dục t́nh, và sự phiền năo nó làm cho náo loạn cơi ḷng “.

Về phương diện này, chúng ta không thể nói ǵ hơn bằng cách lấy những câu trên làm kinh nhật tụng.

Ở trên chúng ta đă nói xă hội Việt trong thời Pháp thuộc băng hoại và thối nát như thế nào. Cờ bạc rượu chè đàng điếm hoành hành khắp nơi, mê tín dị đoan đè nặng lên mọi tầng lớp xă hội. Vấn đề đặt ra cho Phật Giáo Hoà Hảo là phải cải tạo hết những cái bẩn thỉu trong xă hội. Công việc thực khó khăn , chỉ có cách dùng cái quyền uy tinh thần, để tâm phúc mọi người bằng giác ngộ. Trong tôn chỉ hành đạo của Phật Giáo Ḥa Hảo, rượu chè, thuốc sái bị cấm. Vàng mă, thầy bùa, thầy pháp, làm chay đàn bị coi như những thứ tin nhảm, mê hoặc ḷng người.

Xá với phướn là tṛ kỳ quái,

Làm chay đàn che miệng thế gian.

……….

Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,

Chớ có đốt tốn tiền vô lư.

Tất cả những điểm trên là những chủ trương cải tạo cần thiết trong Phật Giáo Ḥa Hảo mà chúng ta được thấy thực hiện ngay từ bước đầu. Đi xa hơn, chúng ta sẽ gặp một niềm tin lớn được xây đắp lên cho tương lai.

Đọc Thi Văn Sấm Giảng không ai bảo ai, mà người nào người nấy đều tin tưởng rằng, tuy nước nhà đương trải qua một hồi cực bĩ, nhưng sẽ có một tương lai huy hoàng xán lạn. Tác dụng của Sấm giảng về điểm này thực vô cùng quan trọng. Giữa lúc đất nước bị qua phân, giữa lúc ḷng người chia rẽ, xă hội băng hoại đến cùng cực, giữa lúc những biến chuyển ở bên ngoài ảnh hưởng không mấy tốt đẹp đến nội t́nh đất nước, ḷng người hoang mang mất tin tưởng ở vận mạng loài người, Phật Giáo Ḥa Hảo đă là một thứ dầu mầu nhiệm nuôi ngọn lửa ḷng cho người dân Việt. Một cảnh thái b́nh vĩnh viễn được vẽ ra, ai muốn được hưởng phải trau tria tu sửa thân tâm. Cảnh đó là cái cảnh cả nước tự do, người người sống ấm no an vui dưới sự lănh đạo của các phần tử trí thức một ḷng v́ nước v́ dân.  

Trên kẻ trí lấy công b́nh phán đoán,

Dưới vạn dân trăm họ được im ĺm.

Cảnh đó là cảnh nhân loại đại đồng, các quốc gia không c̣n hiềm khích lẫn nhau mà một ḷng thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau nắm tay trên đường tiến bộ.

Ấy là xong bổn hiệp một nhà,

Không ganh ghét dứt câu thù hận oán.

Tất cả sự nghiệp trên đây đă làm cho Phật Giáo Ḥa Hảo đóng một vai tṛ trọng yếu trong xă hội nước Việt hiện nay, mỗi ngày mỗi rơ thêm lên.

Ngay từ thuở c̣n sống thành bộ lạc, trên đất Trung Hoa hiện nay, dân tộc ta đă có ư tưởng Tiên Rồng làm kim chỉ nam cho kiến quốc và sinh hoạt quốc dân. Rồng tượng trưng cho đời sống vật chất. Tiên tượng trưng cho đời sống tinh thần. Đời sống của dân Việt là đời sống quân b́nh phát triển hai mặt sống đó. Không phải vật chất là tất cả, mà cũng không phải tinh thần là tất cả, mà hai mặt đó phải đặt ngang hàng nhau th́ đời sống mới không lệch lạc. Những thời thạnh trị trong lịch sử nước nhà đều là những thời kinh tế và văn hóa phồn thịnh ngang nhau.

Lư tưởng Phật Giáo Ḥa Hảo lấy yếu lư nhà Phật làm căn bản đă rất thích hợp với cái lư sống của dân tộc từ muôn xưa. Nhà Phật lấy con người làm cốt cán cho học hiểu. Theo huyền thoại, khi Đức Thích Ca mới sinh ra th́ một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà nói rằng : “Thiên thượng, địa hạ duy ngă độc tôn “. Thiên thượng địa hạ đây tượng trưng cho khoảng thời gian vô hạn định là vũ trụ, ngă đây là con người mà Đức Thích Ca là tượng trưng. Trong vũ trụ tự nhiên chỉ có loài người đă giác ngộ, xứng đáng mang cái danh hiệu là “người “.

Lư tưởng Phật giáo thật là thích hợp với tư tưởng cốt cán của dân tộc ta, mà Phật Giáo Ḥa Hảo lại là một luồng tư tưởng tổng hợp Phật Khổng Lăo, một thứ tổng hợp gạn lọc qua tinh thần Tiên Rồng đă làm cho nước nhà thoát ra khỏi âm mưu diệt chủng của người phương Bắc mà thành một quốc gia có một văn hóa riêng biệt, nó chối bỏ tất cả những thứ văn hóa nô dịch, nhưng luôn luôn sẵn sàng hấp thu những tinh hoa của nền văn hóa khác, để tự do dân tộc, tập trung nhân lực, tài lực, vật lực, vùng lên cao cả và đại hùng hoàn thành sứ mạng, thiết lập một “niết bàn nơi hạ giới “. Chỉ lúc đó và chỉ sau lúc đó, Phật Giáo Ḥa Hảo mới hoàn thành được sứ mạng của ḿnh :

Chừng ấy mới tịnh vô nhứt vật,

Bụi hồng trần rứt sạch cửa không,

Chuông linh ngân tiếng đại đồng,

Ta bà thế giới sắc không một màu. 

 

      

6 - PHẬT GIÁO H̉A HẢO VÀ CHỦ TRƯƠNG CHẤN HƯNG XĂ HỘI

Phạm Cao Dương

(Nguyên Giáo sư Sử học Đại học Sư phạm và Văn khoa Saigon)

 

Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Phật giáo nói riêng trong những năm cuối của thời kỳ Pháp thuộc, đúng hơn là trong hai thập niên ba mươi và bốn mươi, đă được đánh dấu bởi hai biến cố vô cùng quan trọng. Đó là sự phát sinh của phong trào chấn hưng Phật giáo truyền thống, và sự h́nh thành của Phật Giáo Ḥa Hảo. Cũng là Phật giáo, nhưng hai phong trào này đă có những hoàn cảnh xuất hiện khác nhau, những chủ trương khác nhau, những đường hướng khác nhau, những điều kiện phát triển khác nhau, do đó, đă mang lại những thành quả khác nhau. Có điều cả hai đều đă góp những phần vô cùng tích cực vào sự h́nh thành của một nền Phật giáo Việt Nam thuần tuư sau khi tôn giáo này đă du nhập vào nước ta từ hơn mười thế kỷ.

Bắt nguồn từ phong trào chấn hưng Phật giáo bên Trung Quốc, đồng thời cũng là một phản ứng của các tăng sĩ và cư sĩ Việt Nam trước t́nh trạng thoái hóa của Phật giáo ở nước ta, từ nhiều thế kỷ trước, trước những lấn át của Nho giáo, đặc biệt là trong thế kỷ mười chín, dưới thời nhà Nguyễn cũng như dưới thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ mà theo Thượng tọa Mật Thể, “từ trên vua cho đến thứ dân, ai ai cũng an trí đạo Phật là cúng cấp, cầu đảo chứ không biết ǵ khác nữa “, trong khi đó th́ tăng đồ “lần lần sa vào con đường trụy lạc, cờ bạc, rượu chè, đàn trước thanh sắc “, “đă có vợ con một cách công nhiên, không c̣n áy náy “, riêng ở Nam kỳ th́ ông thầy, bà văi lại c̣n hỗn độn hơn nữa, và “cái cảnh chùa trong nước đă thành những gia đ́nh riêng, không c̣n ǵ là tính cách đoàn thể của một tôn giáo nữa “(*). Tuy nhiên v́ chỉ nhằm chấn hưng Phật giáo thuần tuư, các nhà chủ trương phong trào này đă đặt trọng tâm của mọi cố gắng vào việc t́m hiểu, phiên dịch sang quốc ngữ để phổ biến các kinh điển đạo Phật từ chữ Phạn hay chữ Hán cho các tăng sĩ và cư sĩ. Công việc này tất nhiên đ̣i hỏi rất nhiều thời gian và sự đóng góp của nhiều người, chưa kể, cũng theo Thượng tọa Mật Thể, “dân t́nh tồi bại, điêu tàn của ngày qua vẫn c̣n lưu hành lại rơ rệt và có thế lực “. Chính v́ vậy hơn mười năm, tức khoảng 1942, khi Thượng toạ hoàn thành tác phẩm của Ngài “chưa hội nào làm được việc ǵ có vẻ đỉnh cách cho nền Phật giáo cả “và chấn hưng mới chỉ là “h́nh thức và danh hiệu “, lời Thượng toạ. Người ta phải đợi đến nhiều chục năm nữa, sang các thập niên sáu mươi và bảy mươi, một nền quốc học Phật giáo mới thực sự khởi sắc và phát triển. Người Phật tử Việt Nam xuyên qua các bản dịch các kinh sách từ chữ Hán hay chữ Phạn sang tiếng Việt, và những sự giảng giải cặn kẽ của các Ḥa thượng, Thượng toạ, Đại đức tinh thâm cả ba thứ tiếng, đă có thể trực tiếp đi xa hơn vào nền triết học sâu thẳm và bao la của nhà Phật, với tâm hồn và những t́nh cảm của con người Việt Nam thuần tuư. Những công lao và những thành quả này, lịch sử văn hoá Việt Nam trong tương lai chắc chắn sẽ phải ghi nhận.

Phật Giáo Ḥa Hảo trái lại, tuy một mặt cũng chú trọng tới sự suy đồi của Phật giáo ở trong nước, điển h́nh là ở các chùa chiền hay trong hàng ngũ các tăng đồ mà người ta có thể thấy được rất nhiều trong các Sấm giảng của Đức Thầy. Chẳng hạn như :

 

Trong sáu tỉnh nhiều điều tà mị,

Tu hành mà vị kỷ quá chừng.

(Kệ Dân của Người Khùng, câu 164-165)

hoặc :

Ghét những kẻ tu hành bốc xước,

Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.

Bước và chùa thấy Phật lạy dài,

Lui khỏi cửa ra  tay cấu xé.

(Giác Mê Tâm Kệ, câu 299- 302)

hoặc :

Thấy dương gian lường gạt Thánh thần,

Mà chua xót cho đời Ngươn hạ.

(Giác Mê Tâm Kệ, câu 309-310)

hoặc :

Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ,

Ta khuyên măi cũng không chịu bỏ.

(Giác Mê Tâm Kệ, câu 317-318)

Lư do là v́ :

Rừng kinh kệ ít người hay chữ,

Quá mắc mỏ bởi chưng Phạn ngữ.

Nên người đời khó kiếm cho ra,

Mơ chuông bày, đọc tụng ó la,

Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lư.

(Giác Mê Tâm Kệ, câu 13-16)

 

Nhưng Đức Thầy đă không chỉ chú trọng tới sự suy đồi của Phật giáo mà thôi, Ngài c̣n chú trọng nhiều hơn tới t́nh trạng suy đồi của toàn thể xă hội Việt Nam về nhiều phương diện, trong đó có sự suy đồi của cuộc sống đạo đức theo quan niệm b́nh thường và theo quan niệm của Khổng giáo. Ưu tư về sự suy đồi của đạo đức xă hội này đă được Đức Thầy nói tới rất nhiều trong Sấm giảng. Suy đồi trong quần chúng cũng như suy đồi trong hàng ngũ giới trí thức mới, trong giới trẻ cũng như giới già. Một sự suy đồi đến độ cùng cực khiến cho Đức Thầy phải than rằng :

Chẳng có người nào tu niệm hiền lương.

(Sấm giảng Khuyên người đời tu niệm,câu 768)

V́ bá tánh th́ “nghinh tân yểm cựu “

Phụ mẹ cha khinh rẻ Phật Trời,

Chẳng có kể công sanh, dưỡng dục.

(Kệ Dân của Người Khùng, câu 83-84)

 

Văn minh sửa mặt sửa mày,

Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.

Dọn xem h́nh vóc lả lơi,

Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa.

Trong tâm nhớ những điều tà,

Lời ăn tiếng nói thật là quá lanh.

 (Kệ Dân của Người Khùng, câu 580-785)

Trong khi giới trí thức cũ cũng như mới cũng chẳng có ǵ hơn. V́ trí thức cũ th́ :

Thấy đời ta cũng héo von,

Học Nho mà chẳng làm tṛn nghĩa nhơn.

Khoe ḿnh chẳng có ai hơn,

Nhờ làm thuốc Bắc đỡ cơn túng nghèo.

Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,

Đợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.

Hốt thời cắc bảy, cắc ba,

Nó đ̣i năm cắc người ta hoảng hồn.

                                               (Kệ Dân của Người Khùng, câu 305-312)

C̣n trí thức mới th́ :

Mấy anh thầy thuốc Lang Sa,

Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
(Kệ Dân của Người Khùng, câu 314-315)

 

Tất cả đă bắt nguồn từ sự suy thoái chung của một xă hội lệ thuộc ngoại bang, nguyên do chính yếu mà Đức Thầy đă nhấn mạnh bằng một quyết định liên hệ đến bản thân ḿnh, quyết định để tóc dài. Quyết định này đă được Ngài giải thích rất rơ, kèm theo với quan niệm tu đạo của Ngài:

 “Sở dĩ Thầy để tóc dài là muốn giữ kỷ niệm với cái phong tục cổ của Tổ Tiên và tỏ cho thiên hạ biết Thầy không chịu ảnh hưởng cái đời văn minh cặn bă của phương Tây. Thấy vậy nhiều người trong bổn đạo yêu mến Thầy liền bắt chước, v́ thế số đông người hiểu lầm rằng để tóc là tu. Thật ra tu là tu, để tóc là để tóc, và tu không phải là để tóc, để tóc không phải là tu. Nếu để tóc mà không chịu trau tâm sửa tánh cũng chẳng phải là kẻ tu hành. Từ rày trở đi đă thoát được ách người Pháp và tuỳ theo phong trào tiến hóa của nước nhà, Thầy cho phép bổn đạo tự do cải cách hầu ḥa hợp với lương dân cùng tôn giáo khác.

V́ nhận định một cách rộng răi như vậy, Đức Thầy và Phật Giáo Ḥa Hảo đă không giới hạn các cố gắng của ḿnh trong phạm vi Phật giáo thuần túy mà đă hướng tất cả vào một phong trào to lớn hơn, quan trọng hơn và phức tạp hơn. Đó là phong trào phục hưng toàn quốc xă hội Việt Nam, ít ra là miền châu thổ sông Cửu Long, về mọi phương diện tôn giáo, văn hóa và xă hội, đặt trên căn bản phục hưng con người Việt Nam truyền thống. Những chất liệu mà Đức Thầy và Phật Giáo Ḥa Hảo đă lấy ra để xây dựng nền lư thuyết cho đạo ḿnh hoàn toàn tại chỗ, hoàn toàn Việt Nam, Việt Nam một cách đơn sơ, thuần hậu, không cầu kỳ, không trí thức đến độ kiểu cách, không quá sâu sắc đến độ bí ẩn. Tất cả đều rút tỉa từ cuộc sống b́nh dị của người nông dân miền Nam, từ những căn bản Khổng giáo hay Phật giáo đă được dân tộc hóa và được trộn lẫn vào nhau trong một tinh thần cởi mở tự nhiên để đón nhận mọi tinh túy từ bốn phương không chút mặc cảm. Về phương diện này người ta có thể nói rằng Phật Giáo Ḥa Hảo là một kết tinh trọn vẹn nhất của văn hóa dân tộc và là một trong những biểu dương trọn vẹn nhất của truyền thống v́ trong Phật Giáo Ḥa Hảo người ta có thể t́m thấy được những màu sắc Khổng giáo trong đời sống đạo đức hàng ngày, những tín ngưỡng Phật giáo và thờ cúng tổ tiên trong sinh hoạt tôn giáo, và t́nh tự quê hương dân tộc trong cuộc sống t́nh cảm. Trong những lời dạy của Đức Thầy, người ta thấy Đức Thầy đă nhắc tới các Thánh hiền, tới Khổng Mạnh một cách vô cùng tự nhiên coi như tài sản quư báu chung của dân tộc.


Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh,

Sách Thánh hiền dạy đạo làm người.

(Kệ Dân của Người Khùng, câu 62-63)

hoặc :

Trai trung liệt đáng trai hiền thảo,

Gái tiết trinh mới gái Nam trào,

Lời Thánh hiền để lại biết bao,

Sao trai gái chẳng coi mà sửa.

(Kệ Dân của Người Khùng, câu 21-25)

Ở cḥm xóm đừng cho nhơ bợn,

Ráng giữ ǵn phong hóa nước nhà,

Câu tam ṭng bạn gái nước ta,

Chữ hiếu nghĩa trẻ trai cho vẹn.

(Kệ Dân của Người Khùng, câu 200-203).

 

Chính v́ những đặc tính kể trên, Phật Giáo Ḥa Hảo đă đáp ứng được những đ̣i hỏi của xă hội miền Nam vào lúc chế độ thuộc địa của người Pháp tan ră và đất nước chuyển ḿnh. Chúng giải thích tại sao chỉ trong một thời gian ngắn tôn giáo này đă vượt được những thờ ơ, lạnh nhạt, kể cả chế riễu mà Huỳnh Giáo Chủ đă gặp phải trong mấy ngày đầu truyền đạo của Ngài, để tiến đến chỗ trở thành một tôn giáo quan trọng ở Việt Nam

(*) Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Saigon, Minh Đức tái bản, 1960, tr. 223-224 .              

                                                   

                                                                       

7 - ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ LÀ MỘT TRIẾT GIA VIỆT NAM   (*)

Phạm Công Thiện

(Nguyên Giáo sư triết học Đại học Vạn Hạnh Saigon)

 

Có lẽ không ai mà không biết Đức Huỳnh Phú Sổ là Đức Giáo Chủ của Phật Giáo Ḥa Hảo, nhưng ít ai biết rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là một triết gia Việt Nam. Chẳng những thế, không phải chỉ triết gia Việt Nam như bất cứ một triết gia nào xứng đáng được gọi là “triết gia “mà Đức Huỳnh Giáo Chủ lại đúng là một minh triết, một thánh triết, trong mọi ư nghĩa cao siêu nhất của danh từ. Khi t́nh cờ đọc một bộ từ điển bách khoa có thẩm quyền nhất thế giới, bộ Encyclopaedia Britannica, dở qua cuốn 6, trang 181, tôi thấy tên tuổi và cuộc đời sự nghiệp của Đức Huỳnh Giáo Chủ chiếm trên nửa cột chữ in nhỏ trên trang giấy tự điển, mấy hàng chữ đầu đă đập mạnh vào mắt tôi : “Huynh Phu So is a Vietnamese philosopher … “Hiển nhiên mấy hàng chữ tiếp tục cũng xác định thêm rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là nhà cải cách Phật giáo và nhà sáng lập Phật Giáo Ḥa Hảo, nhưng chính điều xác định đầu tiên của Encyclopaedia Britannica đă làm tôi chú ư đặc biệt : “Huỳnh Phú Sổ là triết gia Việt Nam  …”Mặc dù tôi có thói xấu giống như Aldous Huxley là hay thích đọc tự điển như đọc tiểu thuyết (Aldous Huxley rất say mê đọc bộ Encyclopaedia Britannica), nhưng không phải bất cứ cái ǵ tự điển đă định nghĩa th́ tôi tin ngay lập tức ; bản tính cố hữu của tôi là ngờ vực tất cả định nghĩa của tất cả tự điển và từ điển. Tuy nhiên, lúc thấy Encyclopaedia Britannica gọi Đức Huỳnh Phú Sổ là “triết gia Việt Nam “th́ tôi bỗng ngừng lại và bắt đầu suy nghĩ. Bao nhiêu âm hưởng bất ngờ xoáy tṛn xung quanh một danh từ quen thuộc.

Từ lâu, tôi đă có thói quen nghĩ rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là một thiên tài tôn giáo dân tộc, là một đại Bồ Tát trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, là tất cả những ǵ đáng tôn kính trong vị thế của một Giáo chủ  một tôn giáo gồm nhiều triệu tín đồ ở Việt Nam. Nhưng tôi chưa nghĩ đến khía cạnh “triết gia “của Huỳnh Giáo Chủ. Hiển nhiên tất cả mọi Giáo chủ tôn giáo đều là triết gia ở một b́nh diện nào đó, và tất cả mọi triết gia ở trên tất cả b́nh diện đều không thể là Giáo chủ được, nếu người ta hiểu được tính thể chân chính của triết lư như là triết lư. Một triết gia  có thể là một triết gia về tôn giáo với một nền tảng triết lư về tôn giáo, nhưng một nhà tôn giáo học không hẳn bị bắt buộc phải là một triết gia, và nhất là một nhà tu hành tôn giáo và nhất là một Giáo chủ tôn giáo lại không nhất thiết phải cần đến một triết lư nào cả, nhất là thứ triết lư kinh viện nhà trường. Tuy nhiên nếu triết lư được hiểu là triết lư trong tất cả mọi ư nghĩa toàn diện của triết lư th́ không có ai có thể chạy thoát ra ngoài cái ṿng tṛn khủng khiếp của triết lư, dù triết lư được hiểu theo nguyên nghĩa Philosophia hay được hiểu theo nguyên nghĩa Minh triết Đạo lư của Đông phương. Nếu được hiểu theo nghĩa nguyên vẹn toàn diện th́ Đức Huỳnh Giáo Chủ đúng là một triết gia Việt Nam vĩ đại mà chỉ có người nào nắm trọn tất cả triết lư Tây phương và đạo lư Đông phương th́ mới có khả năng nh́n thấy được tất cả ư nghĩa ẩn hiện của bốn chữ triết lư Việt Nam.

Một thanh niên Việt Nam mới 20 tuổi mà đă cưu mang tất cả sức nặng bí ẩn của đạo lư Đông phương, đă thể hiện tất cả khả tính có thể có được của tư tưởng Việt Nam, đă thể hiện trọn vẹn tất cả tinh tuư của Mật tông, Thiền tông và Tịnh độ tông, đă thành tựu oanh liệt truyền thống Thiền Lư Trần và Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam, đă nối kết lại tinh thần Phật giáo nguyên thuỷ với đại nguyện và đại hành của lư tưởng Bồ Tát trong Đại thừa, đă đốt cháy lại ngọn lửa thiêng trao truyền từ lục tổ Huệ Năng , đă gây dựng lại với hai bàn tay trắng tất cả những ǵ cao siêu nhất của dân tộc và của nhân loại trong sự nghiệp tư tưởng và hành động của ḿnh, đă nuôi dưỡng đời sống tâm linh và hùng khí dân tộc cho bao nhiêu triệu người Việt Nam. Một người như thế, chẳng những là một triết gia Việt Nam thôi, mà chính là minh triết, thánh triết cho cả nhân loại.

(*)  Lược trích trong “Phật Giáo Ḥa Hảo trong ḍng lịch sử dân tộc “, Nguyễn Long Thành Nam, Đuốc Từ Bi xuất bản 1991.

 

NGUYỄN BẠCH TRÚC

Sưu tầm và tổng hợp

 

Nguồn : vanchuongviet.org