Trần Thượng Xuyên [4] và những thế hệ

người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ

PHAN AN

 

Ở quận 5 TP.HCM, có một di tích văn hóa Lịch sử cấp quốc gia mang tên ''Minh Hương Gia Thạnh Đ́nh'' tọa lạc số 380 đường Trần Hưng Đạo. Đó là ngôi đ́nh của làng Minh Hương, làng của những người Hoa được thành lập sớm nhất trên đất Nam bộ Việt Nam, ít ra cũng cách nay khoảng 250 năm. Trong đ́nh thờ nhiều vị thần linh và những người có công gây dựng, bảo vệ cộng đồng người Hoa như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Nguyễn Hữu Cảnh... Trong số các vị được thờ tự, tri ân đó có cả Trần Thượng Xuyên, một trong những người có công d́u dắt, lănh đạo một nhóm người Hoa từ Quảng Đông Trung Quốc đến lập nghiệp mưu sinh trên đất Nam bộ Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ XVll. Trước bàn thờ ông trong đ́nh có đôi câu liễn chữ Hán như sau:

Sử tắc Bắc triều thần, Công thường trinh trọng

Ninh vi Nam quốc khách, trúc bạch chiếu thủy

Tạm dịch:

Triều Bắc thẹn làm tôi, cương thường giữ vẹn

Nước Nam xin làm khách, sử sách rạng danh.

Bài vị của ông trên bàn thờ có ghi: ''Phụ Quốc Đô Đốc Tướng Quân, Thắng Tài Hầu, Gia Phong Oai Dịch Chiêu Đổng Hiển Linh, Trần Công Thượng Đẳng Thần''.

Bài vị và câu liễn đă thể hiện rơ phần nào về lịch sử' vai tṛ và vị trí của Trần Thượng Xuyên đối với người Hoa và vùng đất Nam bộ vào thế kỷ XVll – XVlll .

Trần Thượng Xuyên là thế hệ người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ. Ông là người đă rời bỏ đất nước Trung Hoa v́ lư do chính trị. Ông là một vơ quan của vương triều Minh trung Quốc. Khi vương triều Minh bị nhà Thanh lật đổ, mà nhà Thanh vốn là một ngoại tộc trong cái nh́n của người Hán đương thời, đă khiến cho nhiều quan lại nhà Minh không chậu hợp tác, đành rời bỏ Trung Quốc t́m nơi nương náu, ẩn dật chờ thời. Trước đây một số tư liệu thường nhấn mạnh đến lư do ''Phản Thanh phục Minh''của một số nhóm di dân Trung Hoa t́m đến Việt Nam kiểu như Trần Thượng Xuyên t́m đến Nam bộ. Theo tôi, trong chừng mực nào đó, nhóm di dân Trung Hoa dưới sự lănh đạo của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch t́m đến Nam bộ vào năm 1679, không hẳn hoàn toàn như vậy.

Thực ra nhóm lưu dân này trước khi đến Việt Nam, đă có thời gian lưu lại Đài Loan, lúc đó do Trịnh Thành Công chủ xướng việc chống nhà Thanh hy vọng trở lại lục địa. Khi thấy không c̣n hy vọng ǵ vào sự gây dựng lại nhà Minh, khi các cuộc bạo loạn chống lại nhà Thanh của Ngô Tam Quế ở lục địa và của Trịnh Thành Công ở Đài Loan đă đến hồi văn cuộc nên Trần và Dương t́m đường tỵ nạn chính trị trên đất Việt Nam. Lúc này, nhóm của Trần và Dương đến Nam bộ t́m đất mưu sinh là chính, chứ không hẳn v́ mục đích phản Thanh, phục Minh''. Quả thực cho đến nay, cũng chưa thấy có ư kiến nào lư giải tại sao Trần và Dương lại chọn đất Việt Nam để tá túc, mà không phải là một quốc gia nào khác ở Đông Nam Á? Hoặc giả tại sao là xứ Đàng Trong mà không phải là Đàng Ngoài. Về một mặt nào đó, phía Bắc Việt Nam, xứ Đàng Ngoài đương thời gần với Trung Hoa hơn và thuận lợi hơn cho ư đồ, công cuộc ''Phản Thanh phục Minh''. Hẳn sự chọn lựa của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch t́m đến Đàng Trong, đến vùng đất Nam bộ không hoàn toàn ngẫu nhiên, mà có ư đồ nhất định. Ư đồ chính, theo tôi là sự chọn lựa vùng đất định cư và mưu sinh lâu dài.

Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch là những thế hệ cư dân đầu tiên của Người Hoa trên đất Nam bộ, nhưng có lẽ chưa phải là những người Trung Hoa đầu tiên t́m đến Nam bộ. Rất tiếc những tư liệu về những người Trung Hoa t́m đến định cư ở Nam bộ đến nay vẫn chưa đầy đủ và rơ ràng. Tuy nhiên theo tôi, trước thời điểm nhóm người Hoa của Trần và Dương đến Nam bộ hẳn có những người Trung Hoa đă đến Nam bộ hoặc xứ Đàng Trong. Không kể cuộc hành tŕnh của phái bộ sứ thần Trung Quốc do Châu Đạt Quan đă đi qua đất Nam bộ trên đường đến kinh đô Vương quốc Chân Lạp vào thế kỷ Xlll, th́ vào khoảng thế kỷ XVI - XVll, hẳn đă có những thương nhân Trung Hoa đă đến Nam bộ trong mối quanh giao thương với xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn.

Ngay trường hợp Mạc Cửu, một thương nhân người Hoa cũng đă t́m đến vùng đất cực Nam Nam bộ và Campuchia vào thời điểm 1671 trước khi họ Trần và họ Dương đến Nam bộ gần mươi năm. Họ Trần và họ Dương trước khi dẫn hơn 3.000 lưu dân Trung Hoa đến Nam bộ, hẳn đă có những thông tin cần thiết về xứ Đàng Trong ở Việt Nam và các vị đă có sự lựa chọn thích hợp. Và thực tế sự lựa chọn đó về sau này, cho thấy là những người lănh đạo đoàn di dân đến Nam bộ năm 1679 là đúng đắn. Đất Nam bộ đương thời là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, có điều kiện để những lưu dân Trung Hoa định cư lâu dài, cũng như mở mang, phát triển. Hai bên, những người lănh đạo xứ Đàng Trong và những lưu dân Trung Hoa có những ư đồ và mục đích tương hợp nhau, gặp gỡ và gắn kết nhau để tồn tại và phát triển trên vùng đất phương Nam Việt Nam.

                                                                          

* * *

Vào cuối thế kỷ XVll, trên vùng đất Nam bộ Việt Nam đă h́nh thành ba trung tâm tụ cư của người Hoa. Đó là vùng Biên Ḥa - Sài G̣n, với ṇng cốt là nhóm di dân của Trần Thượng Xuyên. Trung tâm thứ hai là vùng nằm từ bờ Bắc sông Tiền và sông Hậu mà tập trung là ở Mỹ Tho và hướng về phía Tây Bắc với các tỉnh Đồng Tháp, Vinh Long, Cần Thơ... Khởi đầu trung tâm này là nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến chỉ huy tách ra từ đoàn di dân 3.000 người cùng Trần Thượng Xuyên đến Việt Nam vào năm 1679. Trung tâm tụ cư người Hoa thứ ba là khu vực Hà Tiên và phía Tây sông Hậu. Nhóm người Hoa đầu tiên đến vùng đất Hà Tiên do sự dẫn dắt của Mạc Cửu, một thương nhân Quảng Đông. Từa trung tâm ban đầu đó, người Hoa tiếp tục nhập cư và mở rộng khu vực cư trú ra hầu hết các vùng đất Nam bộ. Có thể xem Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu... và những lớp di dân người Hoa đến Nam trong khoảng cuối thế kỷ XVll - XVlll - là những thế hệ người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ. Những thế hệ di dân người Hoa đầu tiên này rơ ràng là những người tiên phong~dũng cảm và ít nhiều mạo hiểm khi lựa chọn vùng đất định cư ở Nam bộ vào thời điểm lịch sử lúc đương thời.

Hơn ba thế kỷ về trước, vùng đất Nam bộ hăy c̣n bạt ngàn là rừng rậm và đầm lầy, sông ng̣i chằng chịt. Đó là một vùng đất đầy tiềm năng, nhưng cũng đầy thách đố với những người tiên phong khai phá bởi sự khắc nghiệt của thiên nhiên hoang dă. Trần Thượng Xuyên và những thế hệ di dân người Hoa t́m đến đất Nam bộ đă phải đối diện và khắc phục biết bao gian nan vất vả để có thể kiến tạo cho một cuộc sống ổn định, lâu dài. Tuy nhiên, những thế hệ người Hoa đầu tiên này cũng gặp không ít may mắn, thuận lợi trong việc khai mở mảnh đất mưu sinh. Trước hết là sự gặp gỡ của những di dân người Hoa với người Việt và Khmer trên vùng đất Nam bộ. Đó cũng là cuộc gặp gỡ của những người nông dân, thợ thủ công, những kẻ lưu lạc nghèo đói, đành phải rời bỏ quê hương của người Việt ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ, của người Khmer ở đầu châu thổ, phía thượng nguồn sông Mê Lông thuộc đất Chân Lạp xưa. Những người lao động nghèo khổ này đă t́m đến Nam bộ để tạo dựng một cuộc sống mới, mong mỏi thoát kiếp nghèo đói Chính cái thân phận nhọc nhằn, khổ đau ấy đă kết nối người Hoa, người Việt, người Khmer cùng các tộc người anh em khác trên đất Nam bộ từ thuở ban đầu Đó cũng chính là sức mạnh cho người Hoa, người Việt, người Khmer trong công cuộc chinh phục vùng đất Nam bộ trong những thế kỷ tiếp theo. Một ưu ái khác với những thế hệ người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ, đó là những quy chế ưu tiên cho những lưu dân Trung Hoa t́m đến và nhập tịch Việt Nam của các chính quyền Nhà nước đương thời- chúa Nguyễn cai trị xứ Đàng Trong và sau đó là vương triều họ Nguyễn. Những lưu dân người Hoa, được tự do đi lại, tự do buôn bán, được tự do giao dịch với người bản xứ và hơn thế nữa được lấy vợ người bản xứ, được sở hữu bất động sản... Hơn hết là được Nhà nước khuyến khích hội nhập vào cộng đồng cư dân Việt Nam. Đó là việc cho phép. Người Hoa đă trở thành công dân Việt Nam được lập làng Minh Hương, hoặc làng Thanh Hà gần giống như làng của người Việt đương thời. Làng (xă) Minh Hương Gia ở Chợ Lớn với ngôi đ́nh Minh Hương Gia Thạnh là một dẫn liệu về chính sách của Nhà nước phong kiến Việt Nam có phần ưu ái với người Hoa. Mặc dù là những lưu dân mới đều từ Trung Hoa trong thế hệ đầu tiên, nhưng Nhà nước phong kiến Việt Nam, đương thời là chúa Nguyễn và tiếp theo là các vua Nguyễn đều rất quư trọng và tin tưởng ở những đóng góp của người Hoa cho vùng đất Nam bộ và xứ Đàng Trong nói chung. Chúa Nguyễn đă phong chức tước cho Trần Thượng Xuyên xem ông như một vị quan lớn của chúa Nguyễn ở đất Gia định.Với Mạc Cửu và những người kế nghiệp đă được chúa Nguyễn phong tước chức cho quyền tự quản trị vùng đất Hà Tiên... Những nhân tài của các thế hệ người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ, cũng đă được các chúa Nguyễn, vua Nguyễn ưu ái tin dùng mà các ông Trịnh Hoài đức, Ngô Nhân Tịnh là một dẫn chứng rơ nét. Trịnh Hoài Đức là đời thứ ba, ông nội ông sang cùng thời với Trần Thượng Xuyên. Cha Trinh Hoài Đức đă trở thành quan chức của chúa Nguyễn, c̣n bản thân Trịnh Hoài Đức là một quan lại cao cấp dưới hai triều vua đầu nhà Nguyễn...

 

* * *

Trần Thượng Xuyên và những thế hệ đầu tiên của người Hoa trên đất Nam bộ đă nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đă có những đóng góp tích cực trong công cuộc khai mở, phát triển và ǵn giữ vùng đất Nam bộ. Những tư liệu ghi chép trong các biên niên sử của nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí... cũng như ghi chép của một số các tác giả đương thời như Lê quư Đôn, Trịnh Hoài Đức, Doăn Uẩn, Nguyễn Cư Trinh... cho thấy những thế hệ người Hoa đầu tiên ở Nam bộ có nhiều đóng góp tích cực trên nhiều lĩnh vực.

Trước hết, là trên lĩnh vực kinh tế. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, nhiều lần ghi lại việc người Hoa (c̣n gọi là người Đường, người Thanh) tham gia việc khai khẩn đất đai, lập vườn, ruộng ở đồng bằng sông Cửu Long. Người Hoa cũng tham dự vào việc đào các kinh làm thủy lợi, giao thông như kinh Mă Trường (Ruột ngựa) ở Gia Định, Kinh Vĩnh Tế (An Giang)...

Đặc biệt, những đóng góp của những thế hệ đầu tiên của người Hoa vào đời sống kinh tế trên vùng đất Nam bộ đó là hoạt động thương mại và thủ công nghiệp. Ngay từ những thế hệ di dân đầu tiên từ duyên hải Nam Trung Hoa, nơi có hoạt động thương mại khá sầm uất từ thế kỷ XV - XVl, đă có không ít các thương nhân, cả những thương nhân từng hoạt động ngoại thương trên vùng Đông Nam Á như Mạc Cửu. Hoạt động thương nghiệp là một thế mạnh của người Hoa và khi đến Nam bộ, một trong những công việc đầu tiên là lập các phố thị, tổ chức kinh doanh buôn bán. Trần Thượng Xuyên cùng những người di dân Trung Hoa, đến Biên Ḥa, chẳng bao lâu sau đă thay đổi một cù lao hoang, hóa thành một trung tâm thương măi lớn nhất vùng Đông Nam bộ. ''Phố xá, mái ngói tường vôi, lầu cao quán rộng, dọc theo bờ sông liên tục tới hơn 5 dặm. Đường phố chia thành ba hạng, phố lớn lót đá trắng, phố ngang lót đá ong, phố nhỏ lót gạch xanh. Đường phố bằng phẳng rộng răi. Ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến neo đậu san sát nhau. Ấy là một chỗ đại đô hội, nhà buôn lớn Đến giao dịch rất nhiều... Gia Định thành thông chợ, cùng thời với Cù lao Phố ở Biên Ḥa là cảng thị Mỹ Tho, cảng thị Hà Tiên, rồi đến khu đô thị Chợ Lớn... Đó là những trung tâm thương mại lớn ở Nam bộ vào thế kỷ XVll - XVlll, mà phần lớn là công sức của thế hệ di dân người Hoa đầu tiên gây dựng nên. Hoạt động thương măi không chỉ trong vùng, trong rước, mà mở rộng giao thương với nhiều quốc gia trên thế giới. Những hoạt động thương mại của người Hoa đă góp phần làm cho vùng đất Nam bộ, cũng như xứ Đàng Trong thịnh vượng nhanh chóng. Mặt khác, với những hoạt động thương mại này, đă góp phần vào việc h́nh thành nền kinh tế mang lính chất hàng hóa ở Nam bộ khá sớm.

Tiếp theo, những đóng góp của các thế hệ người Hoa đầu tiên ở Nam bộ, là mở mang và phát triển các hoạt động thủ công nghiệp. Cũng giống như các thương nhân, trong số di dân người Hoa đến Nam bộ có không ít thợ thủ công. Vùng đất Nam bộ thuở ban đầu khai mở đă tạo điều kiện cho việc phát huy tài năng, tay nghề của các thợ thủ công người Hoa. Dàu vết của các hoạt động thủ công nghiệp người Hoa vẫn c̣n đậm nét ở khu vực Sài G̣n - Chợ Lớn. Ơ đó, đến nay vẫn lưu giữ các địa danh Ḷ gốm, Ḷ rèn, Xóm thiếc, Xóm chỉ, Xóm Vôi... Những địa danh này là ghi dấu vùng đất đă tồn tại những nghề thủ công của người Hoa có từ rất sớm trên đất Nam bộ. Những hoạt động thủ công của người Hoa đă sớm trở thành việc sản xuất hàng hóa cung cấp cho nhu cầu của người dân Nam bộ cũng như các quốc gia lân cận. Nói đến nghề thủ công của người Hoa trong buổi ban đầu trên đất Nam bộ, không thể không nhắc đến hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam là Đồng Nai và B́nh Dương (Biên Ḥa và Thủ Dầu Một). Những thợ thủ công của người Hoa đă sớm nhận ra tiềm năng gốm sứ của hai địa phương này, có đất sét tốt, có nguồn nhiên liệu dồi dào là gỗ rừng và thuận đường giao thông... Những thợ thủ công người Hoa đă xây dựng các ḷ gốm sứ theo kinh nghiệm, cùng kỹ thuật chế tác của Trung Hoa vào sản xuất các sản phẩm gốm sứ đáp ứng nhu cầu của người dân Nam bộ.

Những sản phẩm gốm sứ của Biên Ḥa và B́nh Dương đă tạo nên một phong cách đặc sắc trong văn hóa gốm sứ củaViệt Nam và vùng đất Nam bộ. Đến định cư ở Nam bộ, người Hoa đă tạo dựng cho ḿnh một đời sống tinh thần, một văn hóa Hoa ở Việt Nam. Ngày nay văn hóa Hoa là một bộ phận cấu thành của văn hóa các dân tộc việt Nam. Những lưu dân Trung Hoa đến Nam bộ, trong hành trang của ḿnh, đă mang theo một vốn văn hóa trung Hoa, là một văn hóa lớn ở châu Á. Trong quá tŕnh sinh tụ trên đất Nam bộ, người Hoa một mặt tiếp nhận các ảnh hưởng văn hóa của các cộng đồng cư dân như Việt, Khmer. Mặt khác, văn hóa của người Hoa cũng tác động và ảnh hưởng đến người Việt, người Khmer và các dân tộc anh em ở Việt Nam. Trên vùng đất Nam bộ, có thể thấy khá rỡ nét những ảnh hướng, kết quả của quá tŕnh giao lưu văn hóa Hoa - Việt, Hoa - Khmer... mà ngay từ những thế hệ người Hoa đầu tiên đă đem đến vùng đất này. Sự giao lưu văn hóa đó diễn ra trên nhiều mặt của cuộc sống vật chất, tinh thần của người dân Nam bộ. Hủ tiếu bánh bao, lẩu... là món ăn của người Hoa, lay đă trở thành món ăn quen thuộc của người Nam bộ. Nhà ở kiểu h́nh ống cũng vốn của người Hoa ở các đô thị Nam Trung Hoa, đă được người Hoa phổ biến ở các đô thị Việt Nam như Biên Ḥa, Chợ Lớn, Mỹ Tho...

Trong ngôn ngữ của người Việt, Khmer đồng bằng sông Cửu Long đă có sự đan xen tiếng Triều Châu, Quảng Đông... thư cách xưng hô: Hia, Chế, Ỷ Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, như tôn giáo tín ngưỡng của người Hoa thờ trời, thờ Bà Thiên Hậu, Quan Công... đă ảnh hưởng khá nhiều đến các cư dân Nam bộ.

Phần nhiều các gia đ́nh ở Nam bộ đều có bàn thờ Thiên trước sân, thờ ông Địa, Thần Tài trong nhà, không ít nhà có bàn thờ Ngũ hành nương nương, Bà Thiên Hậu, Quan Công... Sân khấu cải lương Nam bộ, theo một số nhà nghiên cứu cũng chịu ảnh hướng của sân khấu hát Quảng, hát Tiều cua người Hoa... Những dẫn liệu về sự giao lưu, tiếp nhận văn hóa của người Hoa, của các cộng đồng cư dân Nam bộ, sẽ c̣n nêu ra nhiều hơn nữa. Hơn hết đó là sự đóng góp của những thế hệ người Hoa cho sự thành tạo một nét văn hóa Nam bộ của Việt Nam.

Một thực tế khác, cũng không kém phần quan trọng khi đề cập đến Trần Thượng Xuyên và những thế hệ người Hoa đầu tiên ở Nam bộ, là sự đóng góp của người Hoa trong công cuộc bảo vệ vùng đất Nam bộ, chống lại các thế lực thù địch, xâm lấn. Vào khoảng thế kỷ XVll - XVlll, vùng đất Nam bộ luôn bị đe dọa bởi các thế lực phong kiến bên ngoài như Chân Lạp, Xiêm La, Java... V́ vậy, chúa Nguyễn và nhà Nguyễn rết coi trọng việc mở mang và pḥng thủ đất Nam bộ. Việc chấp thuận cho một bộ phận lớn di dân Trung Hoa đến sinh sống ở Nam bộ, cũng nằm trong ư đồ của các chúa và vua Nguyễn. Mặt khác, người Hoa định cư trên đất Nam bộ cũng sớm nhận thức được trách nhiệm của ḿnh, đoàn kế~và góp sức cùng các dân tộc anh em để bảo vệ, ǵn giữ vùng đất Nam bộ. Trần Thượng Xuyên đă được chúa Nguyễn nhiều tần giao việc chỉ huy quân đội ở Gia Định, trong đó chắc chắn có không ít binh lính là người Hoa, chiến đấu chống lại các đội quân xâm Iược của Chân Lạp vùng biên giới Nam bộ. Mạc cửu, MạcThiênTích cũng phải nhiều lần trực tiếp chỉ huy quân lính đương đầu với giặc Xiêm La, Chân Lạp~iến công lấn chiếm là Tiên. Trong việc ổn định và khẳng định chủ quyền vùng đất Nam bộ trong lịch sử Việt Nam, đă có nhiều đóng góp tích cực của người Hoa, đặc biệt là những thế hệ người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ, thời Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu...

 

* * *

Trở lại phần đầu bài viết, tôi muốn lưu ư về đôi câu liễn trước bàn thờ Trần Thượng Xuyên ở đ́nh Minh Hương Gia Thạnh Chợ Lớn. Câu liễn ấy là của người đời sau, mà chắc là người Hoa, cũng có thể là người Việt và biết đâu là người lai hai ḍng máu Việt- Hoa - Người Minh Hương như một số nhà nghiên cứu quen gọi... Nhưng, cho dù thế nào, th́ hơn hết vẫn là người Nam bộ phẩm b́nh, đánh giá công lao, sự nghiệp của Trần Thượng Xuyên, hoặc rộng hơn là thế hệ của những người Hoa tiên phong lập nghiệp trên đất Nam bộ, một phần đất của Việt Nam. Những người Hoa đành phải chua xót giă từ đất quê để đến Nam bộ lập nghiệp mưu sinh. ơ đây, họ đă t́m thấy sự ổn định và nh́n thấy một tương lai yên b́nh. Mong ước của Trần Thượng Xuyên và những thế hệ người Hoa đầu tiên ấy là trúc bạch chiếu thủy'' khi ''Ninh vi Nam quốc khách'', góp sức ḿnh vào ḍng lịch sử nước Nam, nơi họ đă chọn làm quê hương. ở thị xă Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, có ngôi miếu cổ thờ Bà Thiên Hậu, một vị thần mà người Hoa vượt biên tin rằng Bà sẽ giúp họ được yên lành trên biến, đến được bến bơ ømong mỏi. Ngôi miếu, theo lời người dân đă có hơn 200 năm về trước, do những người Hoa quê ở Triệu Khánh thuộc tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc vượt biển đến Rạch Giá - Hà Tiên t́m đất sống. Trước cửa miếu có câu đối:

Quảng giao di vực

Triệu tập đồng nhân

(Hai chữ Quảng, Triệu mở đầu các vế đối, ghi lại tên vùng đất nguyên quán Triệu Khánh, Quảng Đông).

Tạm dịch:

Mớ rộng mối giao lưu nơi vùng đất khác

Tập hợp những người cùng như nhau.

(Chữ Triệu, vốn nghĩa là mở đầu, ngay thẳng, nhưng ở đây tác giả dùng âm với nghĩa là triệu tập, tập hợp).

Theo tôi, câu đói ấy là của những người Hoa trong những thế hệ đầu tiên ở Nam bộ - thế hệ của Trần Thượng Xuyên khẳng đ́nh về cuộc sống của ḿnh trên đất Nam bộ: vừa mở rộng mối quan hệ với các cộng đồng cư dân Việt, Khmer và các dân tộc anh em ở Việt Nam, vừa đoàn kết gắn bó giữa những người cùng chung số phận, cùng chung công cuộc khai mở vùng đất Nam bộ.

(Nguồn: sugia.vn)