Quốc Kỳ Việt Nam

 

Nguyễn Tường Bá

 

 

Quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ từ năm 1948 đến nay

Khắp nơi trên thế giới nơi nào có người Việt cư ngụ, lá cờ vàng ba sọc đỏ được sử dụng. Nhưng tại Việt Nam nói đúng hơn tại nước “Cộng Ḥa Xă Hội Chủ nghĩa VN” và do đảng Cộng Sản Việt Nam cưởng ép, lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng.

Cờ vàng ba sọc đỏ, nguyên thuỷ từ cờ Quẻ Ly biến thể, là lá cờ được Ḥang Đế Bảo Đại kéo lên khi Việt Nam hủy hiệp ước thuộc địa kư với Pháp lấy lại nền độc lập có từ ba ngàn năm (khác với Hoa Kỳ cần tuyên bố độc lập năm 1776) vào ngày 11/3/1945 nhân ngày 9/3/1945 quân đội Nhật triệt hạ quân lực Pháp tại Đông Dương và Việt Nam được cởi trói. C̣n có thể nói lá cờ độc lập đầu tiên được quần chúng biết đến là lá cờ nửa Vàng nửa Đỏ được Việt Nam Quốc Đảng kéo lên tại Yên Bái ngày 10/2/1930 khi quân Việt Quốc nắm quyền kiểm soát thị xă nầy.

Việt Chi Nguyễn Hữu Quang, chuyên gia về Kinh Dịch đă viết rất uyên bác: “Ngay từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đầu voi phất ngọn cờ vàng, đánh đuổi quân Bắc xâm lấn, nước ta đă có quốc kỳ. Màu vàng là màu quốc thể, đồng thời cũng là màu da của giống ṇi. Theo quang học, màu vàng chiếm vị trí trung ương trong quang phổ thấy được.

Nhà Nguyễn, triều cuối cùng của nước ta thêm 2 vạch đỏ vào lá cờ: màu đỏ màu của chu tước là màu chính của phương Nam, hai vạch liền biểu trưng thái dương, một trong tứ tượng, chiếm vị trí căn để hai quẻ Kiền, Đoàn (tiên thiên) tức là chính nam, và đông nam, ám họp với vị trí nứơc ta trên bản đồ Đông Nam Á. Gia dĩ thái dương thuần dương luôn luôn biến sang ba tượng kia.

Chính phủ đoản mệnh của thủ tướng Trần Trọng Kim (1945) thêm một vạch đứt vào giữa hai vạch liền của lá cờ, ba vạch nầy, một đứt hai liền hợp thành quẻ ly đơn (Ly vi hỏa), biểu tượng mắt trời, ánh sáng, năng lượng, nói ngắn chuyện E=mc2(1) và chiếm vị trí chính nam trong bát quái hậu thiên của Vua Văn, cùng lúc ba vạch nầy cũng tượng trưng cho ba kỳ Bắc-Trung-Nam. Cựu Ḥang Bảo Đại khi về nước thành lập quốc gia Việt Nam đă đổi vạch đứt thành vạch liền. Do đó quẻ Ly biến thành quẻ Kiền ở vị trí chính nam trong Tiên Thiên Bát Quái. Quẻ Kiền cũng tượng trưng Trời. Trời ở về phía phương Nam, nói tắt là Trời Nam (Nam Thiên), cũng là tên xưa của nước ta vậy. Từ đó, cũng như sau năm 1975, lá cờ vàng ba sọc đỏ tiếp tục phất phới trên toàn thế giới ở những nơi tụ họp của tất cả người Việt Quốc Gia và người Việt c̣n yêu nước thương ṇi. Trong khi đó “lá cờ máu” sao vàng của CSVN dùng màu đỏ và ngôi sao của cộng sản quốc tế, vẫn maĩ maĩ ở cương vị một đảng kỳ (2).

Lá cờ vàng ba sọc đỏ không gắn liền với một người, một đoàn thể, một chính đảng, một thể chế hay một giai đoạn lịch sử giới hạn. Trái lại cờ ấy đă được trưng lên từ thời kỳ Quốc Gia VN có xu hướng đế chế, qua thời kỳ Đệ Nhất Cộng Ḥa và có xu hướng Tổng Thống chế giành ưu thế cho Hành Pháp, đến thời kỳ Đệ Nhị Cộng Hoà. Cờ ấy đă tập hợp những người bảo thủ và những người tiến bộ, dân lương và dân giáo, giới ưa độc lập cực đoan với những xu hướng về nước nầy hay nước khác ở Tây Phương…lá cờ ấy khác với lá cờ biểu hiệu rỏ rang mầu sắc, h́nh tượng của một đảng nhất định.

Quốc kỳ không phải là, không thể là một sáng tác cá nhân, một công tŕnh trừu tượng. Một lá cờ chỉ trở thành quốc kỳ sau khi đă trải qua một quá tŕnh lịch sử, đă tập họp và thể hiện được những ước vọng, những tin cậy và những lo âu chung của đông đảo nhân dân, đă có nhiều người thề thốt trên đó, tác động v́ đó, và hy sinh trong đó. Một lá cờ không được chọn làm quốc kỳ chỉ v́ màu sắc tươi, h́nh thức đẹp hay ư nghĩa sâu xa. Quốc Kỳ không phải chỉ là sáng tạo của tinh thần, công tŕnh của nghệ thuật: nó là sản phẩm của lịch sử.

……………

Nhưng cờ vàng ba sọc đỏ ngày nay tung bay tràn lan khắp năm châu, mọi nơi có dấu chân người Việt và kỳ lạ thay đă được trân quí hơn trước kia. Sau năm 1975, ng̣ai biểu tượng tinh thần Quốc Gia Việt Nam, cờ vàng ba sọc đỏ c̣n mang thêm ư nghĩa biểu tượng Tự Do Dân Chủ của mọi người Việt không những ở hải ngoại mà c̣n ở trong quốc nội. Cờ vàng ba sọc đỏ thật linh thiêng.

Tháng 5/2001

 

(1) Công thức năng lượng của Einstein

(2) Việt Chi Nguyễn Hữu Quang-Kinh Dịch trong xă hội Việt Nam và Khoa Học Văn bút VN Ontario 1997 trang 224, 225, Làng Văn tổng phát hành