Nam Kỳ 1945-1946

                                                                                            

Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên

chuyển ngữ và phụ chú từ :

 

Ngô Văn. Viet Nam 1920-1945, révolution et contre-révolution sous la domination coloniale. - Paris : Nautilus Éditions, 2000. – 448p.  (partie V : chapitre 21, 22)

 

Lời nói đầu:  Hai năm 1945 và 1946 là những năm hết sức đặc biệt trong lịch sử cận đại của Việt Nam, vì những việc vô cùng quan trọng cho tương lai của đất nước đã xảy  ra trong hai năm ấy như là:

- việc Nhựt Bổn đảo chánh Pháp ở Đông Dương (9-3- 45),

- việc thành lập Nội Các Trần trọng Kim (17 - 4- 45),

- việc Nhựt Bổn thua Đệ Nhị Thế Chiến (tháng 8- 45),

- việc xuất hiện và cướp chánh quyền của Việt Minh ngoài Bắc, đưa đến việc vua Bảo Đại thoái vị và trao ấn với kiếm của nhà vua cho Trần huy Liệu (25-8- 45),

- việc Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập VN Dân Chủ CộngHòa (2-9-45),

- việc quân của Tướng Lư Hán vào Hànội và Bắc Việt (9-18-tháng 9-45) để giải giáp quân Nhựt,

- việc Đảng C.S.V.N. tự ý giải tán ( 11-11- 45) để thành lập Chánh Phủ Liên Hiệp (24-12- 45), rồi bầu cử Quốc Hội (6-1- 46),

- việc thỏa thuận giữa Hồ Chí Minh và Sainteny rồi quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng(6-3-46),

- việc Cố- Vấn Vĩnh Thụy được cử sang Trùng Khánh để gặp Tưởng Giới Thạch (16-3-46) rồi ở luôn bên Tàu,

- việc Tướng Pháp Leclerc vào Hà Nội không một tiếng súng (18-3- 46),

- việc Hội Nghị ĐàLạt không có kết quả (16 tháng 4 tới 11 tháng 5- 46), rồi Hồ Chí Minh sang Pháp tham dự Hội Nghị Fontainebleau(6 tháng 7 tới 10 tháng 9-46) ký modus vivendi (đêm 14-15-th.9- 46) và về Việt Nam trên tàu Dumont d’Urville (18-9- 46),

- việc Hải Phòng nổi dậy đánh Pháp (20-11- 46) và việc Toàn Dân Kháng Chiến chống Pháp giành độc lập bắt đầu từ đêm 19-12-1946.

Tất cả những việc nói trên đã được nhiều sách Việt-ngữ, Pháp-ngữ hay Anh-ngữ viết về Việt Nam kể lại khá đầy đủ. Nhưng trong cùng thời gian trên, còn có nhiều việc đã xảy ra ở trong Nam mà, theo chỗ tôi được biết, ít có sách nói tới một cách rõ ràng và đầy đủ như sách “Viêt Nam 1920-1945,  Révolution et contre- révolution sous la domination coloniale” của Ông Ngô Văn, mà tôi sẽ lược dịch phần V, gồm hai chương 21 và 22 là những chương kể lại những việc đã xảy ra ở trong Nam vào những năm 1945-46. Chúng tôi cũng nhân dịp có thêm  vài phụ chú để soi sáng thêm vấn đề..

 

Partie V: Révolution et Contre-Révolution d’Août 1945

(Cách Mạng và Phản Cách Mạng tháng 8-1945)

Gồm có hai chương XXI và  XXII.

 

Chương XXI- Le Viet Minh au pouvoir (Việt Minh nắm chánh quyền.) (tr.323-346).

Hồi tháng 8-1945,  230.000 dân Nhựt bị tiêu diệt vì bom nguyên tử ở Hiroshima ngày 6, và ở Nagasaki ngày 9 tháng 8-1945. Ngày 16-tháng 8, hãng thông tấn Domei công bố ở Hà Nội sắc-thư của Hoàng-đế Hirohito ra lịnh cho quân Nhựt ngưng bắn.

Từ tháng 7-1945, trong Hội nghị Postdam, “tam cường” Truman, Churchill và Staline, đã quyết định Đông Dương sẽ bị quân của Tưởng Giới Thạch chiếm phía Bắc từ vĩ-tuyến 16, và quân của Mountbatten phía Nam của vĩ-tuyến, để nhận sự đầu hàng của Nhựt-Bổn, và “tái lập trật tự và luật pháp”. De Gaulle không có tiếng nói.

Quân Trung Quốc vào Bắc-kỳ ngày 28 tháng 8, và cho tới ngày 9 tháng 9 mới tới HàNội; quân Anh-Ấn của Tướng Gracey đến ngày 12 tháng 9 mới tới SàiGòn. Trong thời gian đó, quân Nhựt phải giử trật tự.

 

1 - Le Sud “en révolution” avant l’arrivée des forces anglo-indiennes.

(Miền Nam “làm cách mạng” trước khi quân Anh-Ấn tới.) (tr.327-328)

Kể từ ngày 16 tháng 81945, Nhựt Bổn thất trận bắt đầu trả quyền cai trị trực tiếp lại cho VN. Ông Minoda cử Ô.Trần văn Ân, trong đảng Phục Quốc, làm Chủ tịch Hội Đồng Nam Kỳ, và Ô.Kha Vạng Cân làm thủ lảnh Thanh Niên Tiền Phong thay thế ông Ida.  Một cuộc “hội hợp tuyên thệ” được dự trù vào ngày Chúa Nhựt 19 tháng 8 trong công viên của thành phố. Và cũng ngày 19 tháng 8 ấy, đúng theo thỏa hiệp giửa Tướng Nhựt Bổn Tsuchihashi và Thủ Tướng Trần trọng Kim, Ông Minoda trao quyền (là quyền Thống Đốc NamKỳ Gouverneur de la Cochinchine) lại cho Giáo Sư Hồ Văn Ngà.

Ông Hồ Văn Ngà, một người quốc gia nhiệt quyết, một trong những sinh viên hồi năm 1930  đã bị tống cổ ra khỏi Pháp vì đã biểu tình chống việc xử “56 án tử hình trong vụ Yên Báy”, là sáng lập viên với B.S. Phạm Ngọc Thạch của “Đảng Quốc Gia Độc Lập” (PNI=Parti Nationaliste pour l’Indépendance), và mới thành lập hồi 14-tháng 8 này “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt” ( FNU=Front National Uni) gồm có PNI và 6 phần khác là Thanh Niên Tiền Phong (TNTP=JAG=Jeunesse d’Avant Garde ) Liên Đoàn Công Chức (Fédération des Fonctionnaires), Phục Quốc (của Cao Đài), Hòa Hảo, Nhóm Trí ThứcTịnh độ Cư Sĩ (Phật Giáo).     

Ngày 1 tháng 8, Ô. Trần văn Ân cho ra một tờ nhựt báo mới tên là Hùng VIệt . Tờ báo này sẽ đăng tải những thông cáo của Mặt Trận và của các thành phần trong Mặt Trận.  Như ngày  16 tháng 8 đăng thông cáo của Liên Đòan Công Chức, ngày 17 tháng 8, đăng tuyên cáo của Mặt Trận, với chử ký của cả bảy thành phần. Nhóm La Lutte không có trong đó. Ngày 18 đăng thông cáo của Liên Đoàn Nhơn Viên Bưu Điện, ngày 20 Tháng 8 đăng lời kêu gọi của Liên Đoàn Công Chức, tất cả “kêu gọi mọi thành viên hảy động viên chống việc Pháp trở lại, hãy tham gia TNTP, tuân lời cấp chỉ huy, để cùng nhau đối phó hữu hiệu hơn với tình hình”.

Việt Minh, nhờ có sự tham gia của những lực lượng hùng mạnh và có kỹ luật của TNTP (des forces puissamment encadrées et obéissantes de la JAG) sẽ nắm được chánh quyền (hồi tháng 8, theo B.S.Phạm Ngọc Thạch, TNTP có 200.000 hội viên trong vùng Saigon-ChợLớn, trong đó đã có 120.000 trong các xí-nghiệp).

(Lời bàn thêm của NLV: Về sau thiên hạ mới biết rằng B.S. Phạm Ngọc Thạch đã là đảng viên của Đảng Cộng Sản Pháp (PCF) từ hồi còn là sinh viên du-học ở Paris. Sau khi Ông qua đời, thì một trong những con đường đẹp nhứt của Saigon dưới thời VN Cộng Hòa là đường Duy Tân, được chánh quyền C.S.V.N. đổi tên là “Đường Phạm Ngọc Thạch”.(tức là để tưởng thưởng người quá cố đã có công lớn với Đảng). Vã lại nên lưu ý rằng cờ của TNTP là “Cờ Vàng Sao Đỏ” dể đổi thành “Cờ Đỏ Sao Vàng” của Việt Minh, nghe thuận chiều và êm tai.)

Ngày 20 tháng 8, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt (FNU) kêu gọi tổ chức vào ngày 21 một cuộc “biểu dương lực lượng” chống việc thực dân Pháp có thể trở lại.

Vã lại trong những ngày đầu của quyền lực mới có trong tay, đại diện cho Khâm Sai là Ông Hồ Văn Ngà (Khâm Sai chính thức là Ông Nguyễn Văn Sâm còn ở ngoài Huế)  đã cử Ông Kha Vạng Cân, một cán bộ của TNTP, làm Thị Trưởng SaiGon-ChợLớn, đã hủy bỏ thuế thân, cho thả những tù nhơn trong Khám Lớn SàiGòn (53 người sẽ tham gia cuộc tuần hành ngày 21 th.8) và cho thả những tù nhơn bị giam ở Côn Sơn, nhờ Hải Quân Nhựt chở về đất liền (họ sẽ về tới SaiGon ngày 25 th.8).

 

2 - Le 21 Août, manifestation du Front National Uni à Saigon.

(Ngày 21 th.8, cuộc biểu tình của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt ở SaiGon.) (tr. 328-331).

Kể từ năm 1926 đây là lần đầu tiên có một biển người, từ sáng sớm đã đứng chật Đại lộ Norodom (sau này là Đại Lộ Thống Nhứt)  từ Sở Thú cho tới dinh Quan Tòan Quyền (sau nầy là Dinh Độc Lập), rồi tuần hành có trật tự theo các đường lớn cho tới Cầu Ông Lảnh. Những thành viên của PNI (Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt), của Thanh Niên Tiền Phong (JAG), và của Cao Đài đi dưới cờ mới của nhà vua ở Huế (là cờ Quẻ Ly: nền vàng ở giửa có Quẻ Ly đỏ -- -- ) Hòa Hảo dưới cờ màu nâu của họ; tất cả biểu ngữ đều nói “Việt Nam Độc Lập”, “Đả Đảo Đế Quốc Pháp”. Nhóm trốtkít đi dưới cờ Đệ Tứ Quốc Tế (là Ánh Sáng Cách Mạng làm Sáng Rực Hòan Cầu) biểu tình với Mặt Trận PNI chớ không nằm trong Mặt Trận như bọn xít-ta-lin vu khống.

Ngay chiều hôm 21 ấy, Việt Minh  nhào vô sân khấu chánh trị của Nam Kỳ. Một số xe hơi có máy khuếch-âm chạy quanh các đường phố SàiGòn hét lên “ Ũng Hộ Việt Minh”. Thế là một tổ chức không ai biết, tự nhiên  xuất hiện và, trong một truyền đơn, tự giới thiệu như là tổ chức có khả năng hơn mọi tổ chức khác, đem sự giải phóng lại cho nước ViệtNam.

Truyền đơn nói:”Việt Minh có liên hệ mật thiết với Đồng Minh để đánh Pháp và Nhựt Bổn. Chúng tôi là bạn của Nga, Trung Quốc với chúng tôi như răng với môi, Hoa-Kỳ mơ ước buôn bán chớ không mơ ước chiếm đất; bên Anh Attlee đã nắm chánh quyền và khuynh tả, nên sẽ dể mà điều đình.

Và trong viển ảnh chủ quan đó, mà kỳ thực là một sự khóac lác, Việt Minh kêu gọi biểu tình vào ngày 28.

Ngày 22 tân Thị Trưởng SaiGon-ChợLớn Khá Văn Cân cho đập phá các tượng đồng tượng trưng cho sự đô hộ của Pháp là tượng của Đức giám Mục Adran Pigneau de Béhaine trước Nhà Thờ Đức Bà, tượng của Francis Garnier trước Nhà Hát Lớn, và tượng của Rigault de Genouilly nhìn sông Saigon.

Cũng vào ngày 22 ấy, Mặt Trận FNU hợp các đại diện của 7 thành phần của Mặt Trận; nhưng B.S.Phạm Ngọc Thạch, thủ lãnh của TNTP không đến, và vài giờ sau thì biểu ngữ và truyền đơn được rải khấp nơi, nói rõ là kể từ chiều ngày 22 th.8 , TNTP không còn ở trong Mặt Trận Quốc Gia FNU nữa mà theo Mặt Trận Việt Minh.

(Lời bàn: Rõ ràng là Cộng Sản đã cài “đồng chí” Phạm Ngọc Thạch vào làm thủ lãnh của TNTP để ngay lúc này làm sụp đổ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt).

Như vây, Mặt Trận Quốc Gia FNU không còn lực lượng đông đảo và kỹ luật nhứt của nhơn dân nữa, đành phải theo chiều, nên ngày 23,  Chủ tịch của Mặt Trận, Ông Hồ Văn Ngà, đại diện của Vua, bắt đầu thảo luận với Viêt Minh ồ Văn NgáHồ   tại trụ sở của Trung Ương TNTP ở nhà số 14 Đại lộ Charner(về sau dưới thời VNCH là Đại lộ Nguyễn Huệ) nói rằng Ông sẵn sàng rút lui nếu có người có khả năng hơn Ông chịu lảnh trách nhiệm.

Báo Hùng Việt ngày hôm sau 24 có đăng thông cáo như sau: «Sau những cuộc thảo luận giữa Măt Trận Quốc Gia ( FNU) và các đại diện của  Mặt Trận Việt Minh, thì có  sự thỏa hiệp để cộng tác nhắm ba mục tiêu là : Độc lập hòan tòan cho ViệtNam ; thành lập một Cộng Hòa Dân Chủ ; và trao quyền cho Việt Minh»

Toàn thể Mặt Trận Quốc Gia (FNU) gia nhập vào Việt Minh và sẽ tham gia cuộc biểu tình ngày 25.

Vì Việt Minh được tăng cường nên quyết định biểu tình sớm hơn 3 ngày.

Vã lại quyết định của Ông Hồ văn Ngà phù hợp với Công Điện số 1855GT của vua Bảo Đại gởi cho các Khâm Sai Bắc Phần và Nam Phần bảo các vị này hảy liên lạc với các nhà có trách nhiệm của Việt Minh mà nhà vua đã mời lập một chánh phủ mới.

Trong nội bộ Đảng C.S. thì từ ngày 17 đã có thảo luận về việc cướp lấy chánh quyền.

Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyên, Bùi Công Trừng thì lưỡng lự vì sợ sẽ có một cuộc đổ máu như hồi 1940,  B.S.Phạm Ngọc Thạch và Ngô Tấn Nhơn (trong đảng Phục Quốc đi với Việt Minh) được cử đi dò ý của Bộ Tham Mưu Nhựt Bổn. Thống Chế Terauchi Tổng Tư Lịnh Quân Nhựt ở  Đông Nam Á Châu, hứa sẽ không can thiệp.

Nhưng để “chắc ăn”,  Việt Minh  dò đường ở Tân An, bằng cách trong đêm 22 qua ngày 23 th.8, sau khi đã hỏi ý của đội Nhựt ở địa phương, chiếm lấy Tòa Bố của Ông Chủ Tỉnh VN đã được Nhựt đặt lên đó sau khi Nhựt đảo chánh ngày 9 tháng3. Không có đổ máu chút nào.

Được yên trí về phía Nhựt Bổn chắc chắn sẽ không can thiệp, Việt Minh quyết định tự thiết lập thành một chánh quyền thực sự trong Nam Bộ (s’ériger en pouvoir de fait au Nam Bo).

Trong đêm 24, những đoàn tự-vệ của TNTP và của Liên Đoàn Công Chức, võ trang sơ sài, tái diển kinh nghiệm ở Tân An. Nhơn danh Việt Minh, những đoàn tự-vệ này chiếm lấy những công sở đã được người VN điều khiển kể từ ngày 9 tháng 3 như dinh Quan Thống Đốc Nam Kỳ (palais du Gouverneur de Cochinchine), Kho Bạc, Nhà Giây Thép (Bưu Điện), các sở  Cảnh sát, sở Mật Thám (Sureté), sở Chữa Lửa, Nhà Máy Điện Chợ Quán, Nhà Máy Nước, v.v. Những đoàn tự-vệ không hề “xung phong chiếm lấy” dinh Quan Tòan Quyền, Nhà Băng Đông Dương (la Banque de l’Indochine), sở Hỏa-Công (la Pyrotechnie), Hải-cảng (le Port),và Phi-trường (Aeroport), Binh-Công-Xưởng (Arsenal), là những nơi mà Nhựt Bổn đang chiếm đống.

 

3 - Le 25 Août, pouvoir autoproclamé du Viet Minh.

(Ngày 25 tháng 8, Việt Minh tự xưng là chánh quyền)  (tr.332-335).

Đêm 24, khi người nhà quê ở chung quanh vùng Saigon-Chợlớn tấp nập vào Saigon để tham gia cuộc biểu tình ngày 25 thì một cuộc dàn-cảnh to lớn, công trình của kiến-trúc-sư Huỳnh Tấn Phát (cháu của Huỳnh Văn Phương (là một nhà cách mạng trốtkít đồng-chí của Tạ Thu Thâu trong nhóm La Lutte ) đã tiến hành khá xa: một cột trụ tứ-giác bao bọc bằng vải mắt rây đỏ, được dựng to lớn lên trước Nhà Hát Lớn Saigon, ở góc đường được chiếu sáng của hai đại-lộ Charner và Bonard (là hai đại-lộ Nguyễn Huệ và Trần Hưng Đạo dưới thời VNCH). Trên đó có ghi bằng chữ lớn tên của những vị trong chánh quyền thật sự (gouvernement de fait) là Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ. như sau:

Chủ tịch và Quân-sự Vụ: Trần Văn Giàu

Ngoại Giao: Phạm Ngọc Thạch

Nội Vụ : Nguyễn Văn Tạo

Lao Động: Hoàng Đôn Văn

Tranh Tra Chánh Trị Miền Tây: Nguyễn Văn Tây

Quốc Gia Tự Vệ Cuộc (tức là An-Ninh quốc Gia): Dương Bạch Mai

Kinh Tế: Ngô Tấn Nhơn

Tuyên Truyền và Thah Niên: Huỳnh văn Tiểng

Tài Chánh: Nguyễn Phi Oanh.

Sáu chức-vụ chánh nằm trong tay của bọn Xít-ta-linít, những người quốc gia trong Mặt Trận FNU (vừa mới nhường chổ cho Việt Minh ) bị gạt ra ngoài.

Như vậy thì trong có một tuần lễ, từ 18 đến 25 tháng 8, Hồ Chí Minh và bè lũ đã làm chủ được cả Ba Kỳ; sự đầu hàng của Nhựt Bổn đã làm cho họ thăng tiến mau, vì làm cho phe quốc gia bối rối bởi quá tin tưởng vào quân Nhựt. Nhưng tư-bản và địa-chủ vẫn yên tâm vì tư sản chưa bị đụng tới, còn thợ thuyền và nông dân thì chưa được biết là họ sẽ bị đập nát bởi chánh quyền mới này.

Đến đây phải nói tới Trần Văn Giàu, Chủ Tịch của cái tự xưng là Chánh Phủ Miền Nam là ai. Ông sanh năm 1911 tại Tân An, cựu học sinh của Tạ Thu Thâu, học ở Lycée de Toulouse bên Pháp năm 1928-1929, rồi lên Đại-học ở đó. Gia nhập Đảng C.S. Pháp PCF. Bị đuổi ra khỏi Pháp sau vụ Yên Báy, người ta lại thấy Ông ở Moscou trong Trường Stalin; tốt nghiệp trường ấy năm 1932 với một luận án bằng tiếng Pháp tựa là “La question agraire et paysanne en Indochine”  (Vấn-đề ruộng đất và dân quê ở Đông Dương). Có một thời gian tập sự trong Hồng Quân (Armée Rouge của Nga-Sô) (theo lời của ông thuật lại với tác giả hồi năm 1936 khi hai người cùng bị tù trong Khám Lớn Saigon). Rồi trở về quê với nhiệm vụ tái lập Đảng C.S.Đông Dương PCI.

Ngày 19-4-1935, sau hội nghị ở Macao, Ông bị bắt ở Saigon và những lời khai của ông với Ông Tòa Trần Văn Tỵ trong Biện- Lý- Cuộc  đã giúp Sở Mật Thám Pháp bắt 167 cán bộ và cảm tình viên, trong đó 113 người sẽ được thả. Ngày 25 tháng 6 ông bị kết án 5 năm tù và ngày 25-7-1935 ông được đưa ra Côn-đảo.

Hồ Hữu Tường thuật lại trong tập san Hoa Đồng Quê  rằng khi các bạn trong tù trách ông đã nói quá nhiều với Sở Mật Thám, thì ông tự bào chửa như sau:

“Nếu Sở Mật Thám tra tấn tôi cho tới chết thì Đảng sẽ mất một nhà lãnh đạo; những lời khai của tôi đã giúp tôi khỏi bị tra tấn; vài năm tù phân phát cho các bạn khác là cái giá phải trả cho mạng sống của tôi.”  

Được đưa về Saigon dưới thời Mặt Trận Bình Dân (Front Populaire) năm 1936, ông ở trong Khám Lớn Saigon cho tới mản hạn tù, được thả ra hồi tháng 4- 1940, từ chối không trở vào Đảng C.S. Nam Bộ đang chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa. Bị bắt giam trở lại trong trại Tà-Lai (Biên Hòa) ở giữa rừng bên tã ngạn sông ĐồngNai, cách Saigon 120 km, ông nói là đã trốn ra được hồi năm 1941. Người ta thấy ông xuất hiện trở lại năm 1944 khi Ông chánh Sở Mật Thám Duchêne, người đứng đầu hệ thống tình- báo “SR Norodom” của phe De Gaulle, bắt liên lạc với ông.

Theo lời chứng của ông này thì Trần văn Giàu chấp nhận đem phổ biến báo và sách nói tại sao dân Đông Dương từ rài phải tin nơi Pháp dân chủ, và ông cũng nhận thành lập nhũng nhóm đồng đảng để làm những công tác đặc biệt giúp cho kháng chiến (của De Gaulle), như lấy tin tức, tiếp tế, phá hoại, giúp quân nhảy dù, vô- hiệu- hóa quân Nhựt Bổn.

Giàu không bao giờ công khai cho biết những mối liên lạc mật của ông với Duchêne và nhiệm vụ ông được giao phó. Ông Duchêne khi được Ô. Bernard Tasteyre phỏng vấn để chuẩn bị viết một luận án năm 1977-78 về La Révolution d’Août en Cochinchine  nói ông đã trao cho Giàu vài khẩu súng sáu (revolvers) và một máy phức- bản (duplicateur). Chi tiết này không có viết trong luận án nhưng được nói với B.S.Hồ Tá Khanh khi Ô.Tasteyre gặp B.S.Khanh cũng về luận án ấy.

Năm 1945, Giàu lúc ấy là Xứ- ủy của Đảng C.S.Đông Dương PCI, thuyết phục được B.S.Phạm Ngọc Thạch thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong (TNTP=JAG) nhập vào Việt Minh và kể từ đó B.S.Thạch trở thành phụ-tá của Giàu trên con đường công danh.

(NLV: Giàu không cần phải “thuyết phục” đồng chí Phạm Ngọc Thạch mà chỉ ra lịnh rồi bàn với nhau về phương thức hành động).

 

4 - La manifestation plébiciste du Viet Minh le 25 Août 1945.

(Cuộc biểu tình tòan dân biểu quyết của Việt Minh ngày 25 th.8-1945.)  (tr.335-338).

Khi tổ chức cuộc biểu tình ngày 25 th.8, mục đích của phe C.S. Đệ Tam là muốn chứng minh sự chính thống (légitimité) của chánh quyền Việt Minh, một chánh quyền tự xưng của họ (pouvoir autoproclamé) . Họ cũng biết rằng những cuộc huy động rầm rộ to lớn luôn luôn kích thích và thúc đẩy quần chúng.

Giàu sẽ tập trung lời cổ võ của y vào nguyện vọng chung và giản dị của thời ấy là quyền độc lập của quốc gia.

Từ sáng sớm, dân của các khu nhà lá chung quanh Saigon, dân của những vùng lân cận GiaĐịnh, GòVấp, Thị Nghè, KhánhHội, kéo về trung tâm Saigon đã đầy nghẹt dân có tiếng “cứng đầu” của các vùng Bà Điểm, Hóc Môn, Đức Hòa và Chợ Đệm đã được bọn cán bộ Đệ Tam huy động đến từ đêm trước. Họ kéo nhau đến Đại-lộ Norodom (Đại-lộ Thống Nhứt dưới thời VNCH) mà ở phía sau Nhà Thờ Đức Bà đã có dựng lên một cái bệ lớn. Một cảnh chưa bao giờ được trông thấy là một biển người dưới một biển cờ đỏ sao vàng của Việt Minh . Không có một cảnh sát nào để can thiệp nên mọi lo sợ đều biến mất. Nếu mỗi người đến biểu tình với một ước mơ khác nhau, tất cả mọi người đều muốn sự chấm dứt của chế độ thuộc địa và mọi người đều sẵn sàng nhảy vào một cuộc chiến mà kết quả chưa biết sẽ ra sao.

Từ trên bệ diễn đàn, Trần văn Giàu, đeo súng lục bên hong, trút xuống dân chúng một bài hùng biện có tánh cách quốc gia (nationaliste) gần như là tiếng vang của bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận Quốc Gia FNU, là: toàn dân đòan kết vì quốc gia, để cải thiện đời sống, để giành độc lập và thực hiện dân chủ, trong một chế độ Cộng Hòa (trong khi mà trong  bản Tuyên Ngôn của FNU thì Hồ văn Ngà nói thực hiện dân chủ trong một chế độ Quân Chủ Đế Quốc). Rồi Giàu thêm: “Hôm nay toàn dân đã biểu quyết chúng tôi; thì toàn dân phải giúp chúng tôi tiêu diệt bọn gây rối khiêu khích”. Giàu ám chỉ ai, ngoài bọn trốtkít mà chương trình xã hội là cách mạng?

Giàu và đồng- lỏa của y là Dương Bạch Mai  đã mộ  cảnh sát và lính hộ- vệ bọn cướp Bình Xuyên, là tên của một làng nhõ bé trong tỉnh ChợLớn nơi cư trú của bọn vượt ngục, mà đầu đảng là Lê văn Viễn, tự là Bảy Viễn, đã cho họ một số vũ khí cướp của Nhựt Bổn.[ Về sau Bảy Viễn sẽ chống lại Việt Minh và cùng với Quân Đội Viễn Chinh Pháp truy nã bọn  Cộng sản; năm 1952 Bảy Viễn sẽ được Bảo Đại cho cấp bực Tướng và Pháp cho huy chương Ngũ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur) ].

Buổi trưa, đến giờ Ngọ, thì B.S.Phạm ngọc Thạch từ bao- lơn Nhà Hát Lớn, đọc lên những tên của thành phần Chánh Phủ  “trên thực tế” (gouvernement “de facto”) đã được niêm yết từ hôm trước. Vỗ tay như sấm.

Liên Minh (tức là nhóm trốtkít) với những khẩu hiệu mạnh “ Đất cho người cày”, “Xưởng cho người thợ”  được quần chúng hoan nghinh triệt để, và trong lúc mà bọn Đệ Tam đòi “ Tòan quyền cho Việt Minh”,  thì  nhóm Đệ Tứ phản lại đòi “ Tòan quyền cho các Ủy Ban Nhơn Dân” và hát bài L’Internationale  chói tai với bài Lên Đàng  của Thanh Niên Tiền Phong (JAG) đã làm cho thanh niên say mê cái “anh hùng muôn thuở của dân Việt”

[NLV.:Tôi không được biết bài “Lên Đàng” nhưng tôi chắc chắn 100%, vì đã tham gia trực tiếp và đã dạy cho thanh niên hát, là bài hát chính thức của TNTP là bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” (Này thanh niên ơi , Đứng lên đáp lời sông núi….) lấy từ bài  “Tiếng Gọi Sinh viên” của sinh viên Y-khoa Lưu Hữu Phước trong đó mọi chữ “sinh viên” được thay thế bằng chữ “thanh niên” Rồi về sau sẽ thành bài “Tiếng Gọi Công Dân” (Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng….) bài Quốc Ca của Quốc Gia VN (với Quốc Trưởng Bảo Đại), của Đệ Nhứt Cộng Hòa (với Tổng Thống Ngô Đình Diệm) và của Đệ Nhị Cộng Hòa (với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu)].

Nhóm La Lutte thì dè dặt hơn. Chúng tôi (là tác giả) không tìm lại được những số báo Tranh Đấu  tháng 8,9-1945, nhưng chúng tôi có thể tóm tắt lập trường của nhóm La Lutte là nhóm ấy không muốn đứng ngoài một mặt trận chống đế quốc, nên cố gắng cho đảng C.S. Đông Dương PCI chấp nhận mình trong một hành động quân- sự chung, nhưng vẫn giữ sự độc lập chánh trị của mình hướng về một cuộc “cách mạng liên tục”. Vì trong những năm dài của cuộc chiến tranh (Đệ Nhị Thế Chiến) không có một cuộc cách mạng vô sản nào xẫy ra trên thế giới, nên nhóm La Lutte phải giới hạn khẩu hiệu tranh đấu hiện giờ của mình trong việc giành độc lập và việc cải cách ruộng đất; nhóm La Lutte tránh né Liên Minh (trốtkít) và tuyên bố không có liên hệ với nó, thành lập một đòan quân tự vệ thợ thuyền nhưng từ khước sự giúp đở của Cao-đài trong cuộc chiến đấu võ trang chung (Cao Đài cho 900 cây  súng, 4 đại bác 5mm của Nhựt Bổn để lại), và của Hòa Hảo, mới tổ chức thành đảng Dân Xã .

Gần như một cách ngẫu nhiên, nhiều Ủy-Ban nhơn dân xuất hiện ở trong vùng Saigon-Chợlớn. Từ ngày 17, thợ thuyền ở khu Phú Nhuận đã bầu Ủy ban của họ tự xưng là “chánh quyền duy nhứt của khu”.

Ngày hôm sau khu Bàn Cờ theo gương. Như vậy những phôi thai chánh quyền đia phương mọc lên cùng hết, chưa rõ theo đường hướng nào, nhưng động lực hăng hái của dân không thể chống cự được. Liên Minh (trốtkít) cố gắng phối hợp các ủy ban nên mở trong khu Tân Định một trụ sở ở số 9 đường Duclos, để cho các ủy-viên hợp lại và thử ra một thông cáo chung. Thông cáo ngày 26 tháng 8 xác nhận muốn giữ sự độc lập của họ đối với các đảng phái chánh trị, việc cần thiết lập một mặt trận chung chống tư-bản không thể làm trở ngại quyền tự do hành động của quần chúng, cho nên phải kết án mọi vi phạm vào sự tự do hành động của thợ thuyền và dân quê, là động- cơ của mọi cải cách xã hội.

 

5 - Les paysans de l’ Ouest et le pouvoir Viet Minh.

(Dân quê Miền Tây và chánh quyền Việt Minh) (tr.338-339).

Ở dưới tỉnh, những người quốc gia đã được Nhựt Bổn giao cho một chút quyền sau ngày 9 tháng 3 cũng làm như ở Saigon. Nhơn danh Độc Lập phải giành lại, họ nhường quyền cho Việt Minh tự hô hào là đứng về phe Nga-Tàu-Anh-Mỹ, là phía thuận lợi để đem dộc lập lại cho đất nước. Họ giao hồ- sơ và văn- khố, ấn triện và kho bạc cho các ủy ban Việt Minh xuất phát từ Thanh Niên Tiền Phong (TNTP=JAG); họ ra lịnh cho lính và cảnh sát giao võ khí lại cho chánh quyền mới.

Từ ngày 25 đến ngày 28 th.12, Dương Bạch Mai tổ chức lại bộ máy đàn áp theo mẩu Mật Vụ Guepeou của Nga-Sô, dưới tên là Quốc Gia Tự Vệ Cuộc .

Để được dân quê hoan nghinh, các ủy ban Việt Minh  đem xử bắn một số nhân-vật địa phương ác ôn, những cảnh sát tra tấn người, những kẽ chiếm đoạt và buộc các địa chủ phải giảm địa- tô, nhưng vẫn giữ chế độ quyền sở-hửu. Trong các tỉnh MỹTho, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, hay Châu Đốc, dân quê không ruộng, nhớ lại khẩu hiệu của đảng C.S.Đông Dương hồi năm 1930-1931, tưởng là ngày chấm dứt phận nông-nô của mình đả đến nên không cần chờ  chánh quyền Việt Minh  đã tự động tấn công vào những chủ điền quá lạm-dụng và tài sản của chúng. Lịch sử chính thức kể lại rằng: Ở Tràvinh, dân quê đã bắt đầu phân phát ruông đất, trâu bò, và nông-cụ. Nhưng để mua lòng chủ điền, Việt Minh đã chận việc đó lại và buộc dân quê phải trả lại cho sở-hửu-chủ những gì họ đã lấy. Cho nên Việt Minh bị dân nghèo nhà quê rất ghét.(theo sách “Cách Mạng tháng Tám”  q.II, tr.279) 

Trong tỉnh MỹTho, dân quê đã nhờ nhà trắc-địa (géomètre) Thu, đảng-viên của nhóm La Lutte, giúp họ chia đất điền cho đồng đều, thì ông Thu bị Việt Minh bắt. Ủy-viên Nội Vụ Nguyễn Văn Tạo can thiệp và tuyên bố những lời đe dọa các người trốtkít đứng về phe dân quê không ruộng đất và các nhà báo. Trong một cuộc kinh lý ở tỉnh ông đã tuyên bố: “Những kẽ xúi giục dân quê chiếm đất sẽ bị trừng phạt nặng nề. Chưa phải là cách mạng cộng sản để giải quyết vấn-đề ruộng đất . Chánh phủ của chúng ta là một chánh phủ dân chủ và tiểu tư-sản tuy rằng đảng-viên C.S. nắm chánh quyền”. (theo báo Tín Điển, Saigon, 12 th.2-1946).

Tạo muốn quên rằng việc chia ruộng đất cho dân quê vô sản, theo thuyết  của đảng C.S.Đông Dương PCI hồi năm 1930, là việc của cách mạng tư- sản- dân-chủ, phải được thực hiện trước khi có cuộc cách mạng vô-sản. Tức là ông đã trở về thời Thanh Niên, “ cách mạng quốc-gia” (liên minh quốc- gia tranh đấu cho độc lập) trước mọi cải cách điền địa.

 

6- Tractations stalino-gaullistes  et mise en cause du pouvoir Viet Minh autoproclamé.

(Những cuộc giằng co giửa phe C.S đệ Tam với phe De Gaulle và việc đặt lại câu hỏi về chánh quyền tự-xưng của ViệtMinh) (tr.339-340).

Xin nhắc lại là hai tuần lễ sau cuộc đảo chánh của Nhựt Bổn, thì De Gaulle, người không quan niệm được nước Pháp phải mất Đông Dương, đề nghị ban cho Đông Dương một chế độ “ Liên Bang Đông Dương trong Liên Hiệp Pháp” trong cái được gọi là “Lời Tuyên Bố ngày 24-tháng 3-1945”. (Déclaration du 24 Mars 1945). Năm tháng sau, một quan cai trị thuộc địa cũ là Đại Tá Cédile, được Hàng Không Hoàng Gia Anh (RAF) thả dù xuống vùng Tây Ninh, di đến Saigon, như vị đại diện của “Nước Pháp Mới” (la “France Nouvelle”) cũng với một đề nghị ấy, mà M.Hertrich gọi là “ một kiệt-tác về sự nhu-nhược, về sự cẩn-thận mù mờ, về sự khó hiểu”. Danh từ độc lập cũng không có trong đó, và De Gaulle còn nói tới «những thuộc địa của chúng ta» (nos  possessions).

Ngày 27 tháng 8, Cédile được gặp Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo và B.S.Phạm Ngọc Thạch, nghĩa là Việt Minh Miền Nam. Cuộc khởi đầu của những giằng co bí mật ấy bị các thành phần quốc gia khác kết-án. Vã lại nó cũng thất bại, vì nền tảng của cuộc thảo luận không thể chấp nhận được.

Trong lúc bấy giờ Trần Văn Giàu và bọn của y còn phải lo nhiều chuyện khác. Được ở trong dinh quan Thống Đốc Nam-kỳ ( là Dinh GiaLong dưới thời VNCH)  họ đang chuẩn bị một cách “quá lễ phép” việc đón rước một “Phái Đòan Các Đồng Minh”, (kỳ thực là một ủy ban kiểm soát của Đồng Minh). Thông cáo ngày 29 tháng 8  của họ khuyên đồng bào “cộng tác  với chánh phủ để tiếp đón một cách hết sức long trọng “Phái Đòan của Đồng Minh” : “mỗi công-thự và biệt –thự đều phải treo các cờ của Anh, Mỹ, Nga, và Trung-Quốc, với cờ đỏ sao vàng của VN ở giữa”.

Ngày 30 th.8, ở tại thị-sảnh của Saigon, Trần Văn Giàu kiểm điểm thành quả của  năm ngày nắm chánh quyền. Có mặt, báo chí và đại diện của nhiều xu hướng chành trị. Ký-giả Nguyễn Kỳ Nam thuật lại cuộc đấu-khẩu sôi nổi giữa Trần Văn Giàu và Trần Văn Thạch, một trốtkít, trong sách Hồi-Ký của Ông (Saigon, 1964). Thạch hỏi: «Ai bầu Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ ?» thì Giàu trả lời lạc đề và đe dọa : “Chúng tôi tạm thời nắm chánh quyền trong giai đọan này, rồi chúng tôi sẽ trả lại cho các người. Còn câu trả lời chánh trị của tôi (y vừa nói vừa lấy tay vỗ vào cây súng sáu đeo bên hong) thì tôi sẽ gặp anh ở chổ khác.”  

 

7- Démonstration de force Viet Minh du 2 Septembre

(Việt Minh phô trương lực lượng ngày 2 tháng 9)  (tr.340-342).

Đến ngày thứ chín trong chánh quyền, thì Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ tổ chức một cuộc biểu tình để nghe Hồ Chí Minh từ Hà Nội tuyên bố Việt Nam độc lập từ Bắc chí Nam. Cuộc biểu tình cũng là một dịp để phô trương lưc lượng của Giàu; mặc dầu y không kiểm soát được hết các nhóm võ trang nên từ ngày 28 th.8, đã kêu gọi những nhóm ấy hãy hiệp nhau lại thành một “quân đội nhơn dân”(une armée populaire).

Cụộc tập hợp bắt đầu từ 9 giờ sáng ở Đại-lộ Norodom được cải tên là Đại- Lộ Cộng- Hòa. Cái bệ diển-đàn dựng sau Nhà Thờ Đức Bà được dùng hồi ngày 25, thì hôm nay chứa đầy những nhơn vật của chánh phủ. Sau khi nghe xong bài diển văn của Hồ Chí Minh truyền bằng radio, thì sẽ có cuộc diễn hành trước bệ diển đàn ấy. Ngoài đám người tham dự rất có trật tự, còn có bốn sư-đòan (gọi là sư-đoàn cho kêu của bốn nhóm người võ trang)  của “quân đội nhơn dân”nói trên, mỗi sư đoàn dưới bộ chỉ huy riêng của mình. (NLV.: Bốn cái gọi là “sư-đoàn”  là bốn nhóm người, võ trang khác nhau, không có đồng phục, dưới quyền chỉ huy riêng biệt : Sư-Đoàn Một của Kiều Công Cung, Sư-Đoàn Hai của Nguyễn Văn Đẩu, Sư-Đoàn Ba của Nguyễn Hòa Hiệp, và Sư-Đòan Bốn của Lý Huệ Vinh.)  

Chỉ có Sư-đoàn Một, là lực lượng của Việt Minh gồm những đội lính  “khố xanh” cũ ( la garde indigène) là có đủ súng ống và đã được huấn luyện; sư-đòan Hai là những đơn-vị bán-quân-sự của Cao Đài ; sư đoàn Ba dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Hòa Hiệp, có học Trường võ-bị Hoàng Phổ bên Tàu, và là đảng-viên của VNQDĐ, thì gồm những “nghĩa dũng quân”  (Giyutai) của  quân đội Nhựt Bổn tuyển mộ hồi tháng 7, và đã được giải ngũ; sư đòan Bốn thì gồm những quân tự-vệ của Hòa Hảo, được võ trang rất là sơ sài.

Máy radio bị hư, nên chính Trần Văn Giàu, lúc 2 giờ chiều, đứng lên hô hào dân chúng; không những y kêu gọi dân hãy vui mừng ngày độc lập, mà còn hăm dọa: “Một số người phản-quốc đang tăng cường hàng ngũ để phục vụ kẻ thù, …phải trừng trị bọn đang gây rối cho Cộng Hòa Việt Nam Dân Chủ, họ giúp cho địch có cơ hội  xâm chiếm chúng ta.

Những lời đe dọa ấy tức nhiên nhắm vào nhóm trốtkít, nhưng cũng nhấm vào những phần tử không hoàn toàn phục tùng như Hòa Hảo, Cao Đài, VNQDĐ.

Rồi đến giờ diễn hành. Trên đám người di chuyển, là cờ đỏ sao vàng của Việt Nam, xen với cờ của Đồng Minh, và những biểu-ngữ bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tàu, tiếng Nga, và tiếng Việtnam, nói: “ Đả đảo thực dân Pháp”, “Thà chết còn hơn nô-lệ”,  “Welcome to our Allies”  , “Việt Nam hoàn tòan độc lập”. Lại còn có một bản khác thường ghi: “ Ban ám sát xung phong”  của một nhóm người ở trần, mình xăm : đó là bọn giết mướn (sicaires) của Dương Bạch Mai, mà phần lớn là bọn cướp Bình Xuyên,  đóng ở gần cầu chũ Y, kiểm soát phía Nam Saigon, và gần như hết cả đô- thị ChợLớn.

Lối 4 giờ chiều, khi làn sóng người, đang hát và hô khẩu hiệu, đi vòng qua Nhà Thờ, thì có tiếng súng nổ, hình như từ phía “Nhà Dòng”của Hội Truyền Giáo (la Maison des Missions). Dân chúng sợ hoảng chạy tán lọan, nhưng nhiều nhóm võ trang xung phong tới. Cha Tricoire, cha tuyên-úy nhơn đức của Khám Lớn, bị đâm và giết chết bằng súng lục trên sân trước giáo-đường. Nhóm La Lutte có mặt ở đó với cờ của Đệ Tứ Quốc Tế, và cả ngàn đảng viên và tình cảm viên. Một “lảo tướng” của La Lutte là Ông Lê Văn Long tóm cổ một người Pháp, dẫn xuống cầu thang của Nhà Dòng và giao cho Quốc Gia Tự Vệ Cuộc của Dương Bạch Mai. Nó sẽ được thả ra ngày hôm sau cùng với những người Pháp khác đã bị nghi và bị bắt.

Nhiều tiếng súng được nghe lọan xạ tứ phía, từ Đại-lộ Bonard (Trần Hưng Đạo), từ Chợ Bến Thành. “Quân đội nhơn dân” (dân quân) bắn trả lại cũng loạn xạ. Sự yên tịnh chỉ được trở lại với trời mưa tầm tã. Kết quả: năm ngừơi  Pháp bị chết, vài chục bị thương. Phải chăng sự phô trương của Giàu đã khiêu- khích bọn Pháp trở thành táo bạo hơn khi thấy quân Anh sắp đến, không thua gì những lời hô hào tuyệt vọng của nhóm trốtkít là phải võ trang quần chúng ?

 

8- Les illusions du Viet Minh sur les “alliés britanniques” s’effondrent

(Những ảo-vọng của Việt Minh về “các đồng-minh Anh” bị tan vở.) (tr. 342-343).

Giàu tự cho mình quan trọng: ngày 3 tháng 9, ông ta cấm mọi người mang võ khí, gươm đao, dao gâm, súng, ra đường, trừ “quân đội nhơn dân”, và cảnh sát Việt Minh . Nhưng mọi người ai cũng chỉ làm theo ý của mình.

Liên Minh (trốtkít) biểu tình ở Chợ Bến Thành, rải truyền đơn kêu gọi tăng cường các Ủy Ban Nhơn Dân, kêu gọi võ trang quần chúng để đánh bọn đế-quốc không phân biệt phát-xít hay dân-chủ. Các nhà lãnh đạo trốtkít vẫn giử khẩu hiệu “Ruộng đất cho dân quê. Cơ xưởng cho thợ thuyền. Hoàn tòan Độc Lập cho Đông Dương”.

Báo Cộng sản Dân Chúng  gọi những người ấy là “Việt gian” và Nguyễn Văn Linh đến văn phòng của họ để  phản đối việc “ kêu gọi sát nhân” ấy.

Tướng Gracey (của Anh), người cầm đầu Ủy Ban Kiểm Soát của Đồng Minh, cho tới ngày 6 tháng 9 mới tới Saigon. Những biểu ngữ tiếp đón, chuẩn bị từ ngày 29 tháng 8, được căng ra trên các đường phố, “Welcome to our Allies”, pha lẫn với những biểu ngữ nói lên ý nguyện chung “Independence or Death” . Về sau Gracey trong một bản báo cáo nói một cách lơ là rằng “Tôi được Viêt Minh hoan nghênh khi tôi đến, nhưng rồi tôi đá đít họ ra” (“I was welcomed on arrival by Viet Minh, I promptly kicked them out”) (trong Journal of the Royal Central Asia Society , July-October 1953 vol. XI, p.213).

Ông (Gracey) trách Tổng Tham Mưu Nhựt sao đã để cho có loạn. Thì có kết quả ngay là Bộ Chỉ Uy Nhựt Bổn biểu chánh quyền trên thực tế giải tán “quân đội nhơn dân” , cấm mọi họat động chánh trị có tánh cách phá hoại, cấm mọi cuộc biểu tình không có giấy phép trước, cấm đeo khí giới kể cả dao mác.

Trong một thông cáo ngày 7 tháng 9, Giàu tuyên bố: “Một nhóm người vô trách nhiệm  đã kêu gọi dân chúng biểu tình ở Chợ Bến Thành, đòi “võ trang quần chúng” …….Hiện giờ, bọn gây rối vô tình hay hữu ý ….. đã cho ngoại bang có cơ hội để xúc phạm đến chủ- quyền quốc gia của chúng ta, …..Những tự do dân chủ mà chúng tôi, Ủy Ban Hành Chánh đã ban hành bị một nhóm người vô trách nhiệm lạm dụng để làm hại quốc gia và xứ sở của chúng ta.”

Cũng vào ngày 7 tháng 9 đó, nhóm La Lutte mới được biết là Tạ Thu Thâu đã bị bắt ở Quảng Ngải và  yết thị tin ấy ở trước trụ sở của mình ở góc đường Garros và Lagrandìere. Cả Saigon đều xúc động. Nhóm La Lutte chất vấn Giàu về vụ ấy.

 

9 - Dissensions entre Viet Minh Nord et Viet Minh Sud

(Những mối bất hòa giữa Việt Minh Miền Bắc và VIệt Minh Miền Nam)  (tr.343-345).

Vài ngày trước, hai thám-tử của Hồ Chí Minh đã đến Saigon, là Hoàng Quốc Việt (trong Trung Ương Đảng C.S. và là người đã cho theo dõi Tạ Thu Thâu trong suốt thời gian Ông này đi ra Bắc), và Cao Hồng Lãnh (ủy-viên của Tổng Bộ Việt Minh). Hai ông này khiển trách Giàu đã hành động trái với đường lối của Đảng: “Chúng ta chủ trương đánh cả Pháp lẫn Nhựt, còn đồng chí thì dựa vào lực lượng của Nhựt Bổn”. (về sau, năm 1989 ở Paris, Giàu phẩn-uất nói trước một nhóm Việt-kiều “Tôi thành người theo Nhựt Bổn,và người ta kết án tôi” )

Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lảnh ra lệnh cho Giàu phải dẹp bỏ Thanh Niên Tiền Phong(TNTP)  và tổ chức lại thành Thanh Niên Cứu Quốc (TNCQ) : luôn luôn những sữa đổi nho nhõ để giữ thể diện, luôn luôn những quanh-co chiến thuật.

(NLV.: Hồi lúc ấy, ở nhiều nơi dưới Miền Hậu- Giang, TNTP quốc gia và TNCQ cộng sản, đã bắt đầu choảng nhau; rồi khi Tây đến, thì TNTP xung phong đánh Tây với tầm vông vạt nhọn, còn TNCQ thì biến đâu mất).

Ngày 8 tháng 9, hai ông ấy còn buộc Giàu phải mở rộng Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ

(CEPN=Comité Exécutif Provisoire du Nambo) thành Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ (CPN=Comité Populaire du Nambo) bằng cách lấy thêm những đại diện của tất cả mọi nhóm chánh trị ở Miền Nam. Mục đích là để cho có một bộ mặt dân chủ. Luật sư Phạm Văn Bạch, không đảng phái, sẽ là Chủ Tịch. Một danh sách mở rộng cho có nhiều ủy-viên hơn gồm có Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo) Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch(La Lutte)  Hồ Văn Ngà, và đến cả Dương Văn Giáo (trong nhóm Hiến Pháp) nữa.

(Ngày hôm sau Phan Văn Hùm mới biết là mình chỉ được làm dự-khuyết (suppléant) nên từ chối.) Gần như tất cả người trong Ủy Ban Hành Chánh cũ  (CEPN) đều được vào Ủy Ban Nhơn Dân(CPN); chỉ có ba nhơn vật mới, trong đó có “Ông Đạo Khùng” (Le Bonze Fou). Nhưng Giàu chống đối việc đề cử “Ông Đạo Khùng”, vì Ông này tố cáo với Hoàng Quốc Việt rằng : “Tôi có những bằng chứng cho thấy rõ ràng sự thỏa hiệp giữa Giàu với Pháp”. (Theo Savini trong sách “Notes sur le Phat Giao Hoa Hao” ở tr. 18: “Trần Văn Giàu không chịu Huỳnh Phú Sổ  vì ông này biết những mối liên lạc của Giàu với người Pháp”).

Cho nên Giàu ra lịnh lục- soát trụ-sở của Hòa Hảo ở đường Miche. Huỳnh Phú Sổ chạy thoát được nên không bị bắt. Sự căng thẳng giữa Việt Minh với Hòa Hảo trở thành một cuộc chiến võ trang ở Cầnthơ, khi tín đồ của “Ông Đạo Khùng” muốn có phần sáng kiến và trách nhiệm của mình, thì họ bị Việt Minh diệt. Nguyễn Xuân Thiệp, tự là thi-sĩ Việt Châu, mà Viêt Minh cho là trốtkít, Huỳnh Phú Mậu, anh ruột của “Ông Đạo Khùng” và Trần Ngọc Hoành, con của một nhà lãnh đạo Hòa Hảo địa phương đều bị bắn chết. Hồi ngày 27 tháng 8 ở Châu đốc Việt Minh cũng đã bắt lối 300 tín đồ Hòa Hảo (bắn chết một người) và ngày 30 bắt những người lãnh đạo địa phương.

Ngày 9 tháng 9, sau cuộc giả bộ cải tổ chánh quyền, Giàu trả lời sự chất vấn của nhóm La Lutte trong một thông cáo trong báo như sau: Việc bắt Tạ Thu Tâu ở Quảng Ngải không do Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời. Ủy Ban Nhơn Dân có thể và có quyền xét xử Tạ Thu Thâu”. Thì chắc là Thâu đã bị ám sát.  

Ngày 10 tháng 9 Tướng Gracey mời Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ rời khỏi Dinh Thống Đốc (tức là Dinh Gia Long)  và ông đến ở đó với ban tham mưu của ông. Ủy Ban Nhơn Dân dọn về Tòa Đô Chánh (Hôtel de Ville), rồi lập lên một Hội Đồng đặc cách liên lạc với Đồng Minh. Được cử vào đó bốn nhơn vật mà một tháng sau sẽ bị Việt Minh ám sát là Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương và Bà Hồ Vĩnh Ký (NLV.: tức là chị Bác sĩ Nguyễn Thị Sương, học trên tôi hai lớp).  

Nhiều quân Anh- Ấn và Đại- đội 5e RIC của Pháp lần lượt được thả dù xuống. Ngày 12, Tướng Gracey cho quân Anh-Ấn Gurkhas chiếm các sở cảnh sát quan trọng, rồi đến Ngân Hàng Đông Dương và Kho Bạc, Sân bay, các nhà máy điện nước, còn quân Nhựt thì giao lại cho người Pháp việc quản trị bến tàu, binh-công-xưởng (Arsenal) và hỏa-công xưởng (Pyrotechnie).

Ở Saigon những nhóm võ trang của Việt Minh vẫn giử Tòa Đô Chánh (Hôtel de Ville) và các bót cảnh sát lân cận.

Liên Minh (trốtkít) và các Ủy Ban Nhơn Dân phát truyền đơn chống đường lối chánh trị liên hiệp quốc gia của Cộng Sản không nhắm tới viễn cảnh giải phóng thợ thuyền và dân quê. Ngày 14, Dương Bạch Mai cho bao vây trụ sở của họ, bắt ủy-viên của họ, tịch thâu vài khẩu súng nghèo nàn của họ, và một máy in thô sơ với một máy đánh chữ.  Ông Lữ Sanh Hạnh sẽ tố cáo Dương Bạch Mai chỉ muốn “tiêu diệt đội tiền phong của vô sản cách mạng”. May phước cho họ khỏi bị ra “tòa án nhơn dân” của Việt Minh và bị xử tử hình nhờ có quân Anh đến chiếm Khám Lớn và giao họ cho Mật Thám Pháp.

Ngày 16, trong lúc một chiếc tàu dầu và 25 chiếc ghe biển cập bến ở Côn-Sơn để đem về đất liền những tù chánh trị ( trong đó có Tôn Đức Thắng, vì tội ở đường Barbier, Phạm Văn Thiện tức Phạm Hùng thoát chết hồi năm 1933, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh trong Đảng Cộng Sản Đông Dương PCI) thì  Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ trong một buổi hợp báo tỏ ra phẩn uất vì uy-quyền của mình bị phỉ báng: những biện pháp đưa ra từ ngày 1 tháng 9 không được tuân theo, tiệm buôn, hảng xuỡng do Pháp nắm đều cố ý đóng cửa, hoặc hoạt động nữa chừng; tiền bồi thừơng thợ bị sa thảy không được chủ nhân đóng góp.

Uy Ban Nhơn Dân hâm dọa sẽ quốc-hữu-hóa những xí-nghiệp của Pháp bướng bỉnh. Không có kết quả gì hết.

Ngày hôm sau, Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ kêu gọi người Việt Nam tổng- đình- công, người nào không theo sẽ bị coi là “việt gian” . Saigon bị tê liêt. Thiệt hại lớn cho bọn thực dân: không có bồi bếp trong khách sạn, không có xe kéo ngoài đường; bến tàu vắng hoe, sự chuyên chở bị ngưng hẳn, tiệm buôn và cửa hàng đóng cửa vì không có người bản-xứ đến làm.

 

10 - Gracey prépare la reconquête francaise

(Tướng Gracey chun bị cho Pháp tái chiếm) (tr.345)

Cũng ngày 17, lối 100 lính Pháp ra khỏi Binh-Công-Xưỡng (Arsenal) trên những xe camion chở đầy súng ống đạn dược. Ngày 19, Cédile (đại-diện của De Gaulle) cũng hợp báo; “Việt Minh không đại-diện cho dư luận của quần chúng, nó không có khả năng gìn giử trật tự và tránh cướp bóc. Trước nhứt phải có trật tự, rồi sau chúng ta sẽ thành lập một chánh phủ đúng như Bản Tuyên Ngôn Ngày 24 Tháng Ba (La Déclaration du 24 Mars). Ngày 20, Tướng Gracey tăng cường biện pháp : Ông cấm mang khí giới, cấm báo chí Việtnam, cho xé các bản tuyên ngôn của Việt Minh  còn dán trên các tường của thành phố, và nhắc cho cảnh sát địa phương nhớ là họ “chỉ là người phụ trợ của quân đội Anh”. Ngày 21, ông ra lệnh thiết-quân-lực, những kẽ phá hủy và trộm cướp sẽ bị xử tử. Ngày 22, quân Anh chiếm Khám Lớn Saigon, thả quân nhảy- dù Pháp đã bị Việt Minh bắt trong tuần trước và giao cho Sở Mật Thám Pháp đã trở về chổ ở cũ, những cán bộ của Liên Minh (trốtkít) đã bị Dương Bạch Mai bắt.

Tướng Gracey lại cho phép Đại tá Rivière tái võ trang 1500 lính Pháp của Trung Đoàn 5e RIC, khi trước là tù-binh của Nhựt Bổn.

Nhóm La Lutte kêu gọi dân không phải chiến sĩ nên di cư ra khỏi thành phố vì sắp có đụng độ và truyền đơn của Ủy Ban Nhơn Dân (CPN) mời dân chúng tản cư về nhà quê và “hãy bình tỉnh vì chánh phủ hy vọng sẽ điều đình được.”

 

Chương XXII- La Reconquête Coloniale. Le Visage de la «Nouvelle France»

( Việc Tái Chiếm Thuộc Địa. Bộ Mặt Của «Nước Pháp Mới ») (tr.347-372)..

Saigon là nơi bắt đầu, hồi tháng 9-1945 của cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm, và chỉ kết thúc sau khi quân thực dân Pháp rút đi hồi năm 1954 và sau khi Mỹ rút đi hồi năm 1975. 

 

1- Offensive franco-anglaise (Cuộc tấn công Anh- Pháp) (tr.347-349).

Ngày Chúa Nhựt 21, lối 4 giờ sáng, với sự hỗ trợ của quân Anh-Ấn Gurkhas, lính Pháp đã dược tái võ trang, tái chiếm những bót cảnh sát quan trọng, Sở Mật Thám, Kho Bạc, Bưu điện, và Tòa Đô Chánh, là trụ sở tạm của chánh quyền VIệt Minh.

Ông Harold Isaacs viết: Lính gát an-na-mít bị đánh thua. Chúng bị giết hay bị bắt làm tù nhơn. Sổ sách bị lấy và bị phân tán. Vài chục người Annam bị cột tay và dẩn đi. Sáng hôm đó nhiều nhơn chứng ngoại quốc đã thấy máu chảy và nhiều người bị trói và bị hành hạ” (Sách Harold R.Isaacs No Peace for Asia The MIT Press, Massachusetts, 1967, tr.153)

Một nhơn chứng khác là J.-M Hertrich kể lại vài giờ sau: “ Lối  8 giờ sáng, đường Catinat reo mừng một cách làm chúng tôi phẫn uất ngay. Tất cả mọi người, mà mới ngày hôm qua còn rung sợ đều nói là sẽ bắt bọn annamít trả một giá rất mắt (đắt) vì đã làm cho họ phải sợ…[..] Nhiều người annamít chỉ có tội là còn tiếp tục di chuyển trên đường, thì bị nhửng công dân dũng cảm (Pháp) tóm cổ, đánh đập, rồi đem giao cho lính (Pháp) trói họ, sau khi đánh cho vài cái. Tất cả chuyện ấy đâm ra kỳ quái, nếu không nói là ghê tởm, và tất cả mọi thông-tín-viên chiến tranh (correspondants de guerre) đều phẫn uất.” (sách J.-M. Hertrich: Doc Lap (“L’independance ou la mort”) Paris, 1946,tr.79).

Báo Daily Express ngày 26 có lời bàn về các vụ ấy như sau: Bốn giờ sáng, là một giờ khác thường, đã được chọn để đánh bất ngờ, với hy vọng tránh được những cuộc biểu tình chống đối của quần chúng. Nhưng, vài phút sau những tiếng súng đầu tiên, thì tiếng nổ dòn rang của liên thanh được nghe trong nhiều khu của thành phố. [..] Lúc 6 giờ rưởi sáng thì hết nghe bắn.[..] Trận chiến giữa Việt Minh và Pháp hình như là chấm dứt [..] những công sở được trả lại cho người Pháp [..] Giải pháp cho vấn- đề của chánh phủ bây giờ là dựa trên sự khéo léo của Pháp làm cho có tinh-ý (tact) và trong tinh thần hòa nhả.[..] Trong cuộc chạm súng đêm qua có hai người Pháp bị chết và bốn bị thương, một người annam bị chết và một số không rõ, có lẽ vài chục, bị trấn-áp nặng hay nhẹ. [..] Sáng nay ngày 23, một không khí khích động xẩy ra khi nhiều lính Pháp đi tuần trong thành phố “hốt” những người đi lang thang, đập bể chốt và khóa của những nhà bị nghi là có chứa võ khí. [..] Trong Tòa Đô Chánh  có lính Pháp, lính Âu châu, lính Phi châu đóng. Tôi thấy lối năm chục tù-nhơn an-na-mít  ngồi chồm hổm dứoi đất, cổ tay bị cột trói laị chung với nhau. Ở Nhà Giây Thép (Bưu Điện) có cả trăm người an-na-mít ngồi dưới đất, tay bị cột chặt trên đầu. [..] Khó mà tưởng tượng được tại sao còn những người đàn bà và thiếu niên bị giữ trói, ngồi bẹp dưới đất, như vậy mấy tiếng đồng hồ sau khi không còn tiếng súng nữa ở trung tâm Saigon. Cái này tôi dã thấy; đối xữ như vây hòan toàn trái với lịnh của Ông Cédile và Đại tá Riviere.

Ngày 26 Đảng Lao Động trách Thủ Tướng Anh Attlee có trách nhiệm trong những biến cố đã xẩy ra:”Những điện tín từ Saigon nói rằng lính Anh Ghukhas, lính với cảnh sát Pháp và Nhựt Bổn được dùng để trừ khử những cuộc tập-hợp chánh trị, những cuộc biểu tình và báo chí, và quân đội Pháp được phép lật đổ chánh phủ cộng hòa an-na-mít.[..] Dân Á-Đông sẽ nghĩ rằng Anh-Quốc và Đồng Minh chống đối sự giải phóng quốc gia dân chủ của họ.

Báo Daily Telegraph ngày 8 tháng 9 đăng câu trả lời của Thủ Tướng Attlee: “ Một phong trào (movement) tự cho mình là dân chủ, không thể chấp nhận là dân chủ được, nếu chỉ dựa vào bản tuyên ngôn của nó.”  

Ông “cáo già” Attlee không thể bị gạt được bởi việc thay thế Giàu bằng luật sư không đảng phái Phạm Văn Bạch trong chức vụ Chủ Tịch “chánh phủ trên thực tế “ của Nam Bộ ngày 8 tháng 9.

 

2 - Soulèvement de Saigon le 23 Septembre 1945

(Cuộc khởi nghĩa của Saigon ngày 23 th.9-1945) (tr. 349-353)

Đêm 23 rạng 24 tháng 9, dân annamít chuẩn bị trả đủa. Trong những khu nghèo, cây bị đốn xuống, xe bị lật đổ, bàn ghế chất ra đường, chướng-ngại-vật được dựng lên; phong trào lan ra khấp các vùng ngoại-ô, Khánh Hội, Cầu Kho, Bàn Cờ, Phú Nhuận, Tân Định, Th ịNghè; bót cảnh sát bến tàu bị tấn công. Phía tây-nam khói lửa cuồn cuồn nổi lên, chắc là từ các kho dầu ở Nhà Bè bị đốt cháy.

Từ ngày hôm qua lính-bộ và lính-thủy Pháp đã đi lục soát từng nhà để kiếm những nơi chứa khí giới, họ tịch thâu và bắt bớ. Ủy Ban Nhơn Dân Nam Bộ đã chạy ra Chợ Đệm ở ngoại-ô tây-bắc ChợLớn.

Thành phố Saigon bị dân địa-phương bao vây. Những khu ở phía Nam và Tây-Nam, hết cả ChợLớn, dọc theo Kinh Xáng (arroyo chinois) cho tới sông Saigon nằm trong tay bọn Bình Xuyên, do Bảy Viển chỉ huy. Ở phía Tây-Bắc thì Cao-Đài nắm giữ đường lên TâyNinh và đường lên sân bay TânSơnNhứt. Về phía Đông, dọc theo bờ sông Thị Nghè (Avalanche) trong khu ngoai-ô TânĐịnh, và trong vùng Tân Bình, Phú Nhuận và GiaĐịnh, dân kháng chiến nằm dưới quyền chỉ huy của Tổ Ký và của “chef ” việt minh  Hòang Quốc Việt. Về phía Đông, thì những phần tử Thanh Niên Tiền Phong đã thoát khỏi cuộc tấn công của Pháp đêm trước, được sát nhập với dân quân của Việt Minh.

Lối 4 giờ chiều quân Bình Xuyên,  đóng dài theo Kinh Xáng (Arroyo chinois) và ở trong ChợLớn, nổ súng. Một nhóm chui vào Saigon theo đường Verdun, chiếm Chợ Bến Thành và Đại-lộ Bonard, nắm trong tầm súng của mình trung tâm thành phố, đường Catinat (về sau là đường Tự-Do) nhà hàng Continental (về sau là Eden) . Từ KinhXáng một nhóm khác theo đại-lộ de la Somme (về sau là đại-lộ Hàm Nghi) hướng về Chợ Bến Thành.

Đến đêm, họ lại giật mìn phá hũy nhà máy điện, nhà máy nước, ở Chợ Quán.  Saigon gần như không còn điện nước. Sự phong-tỏa Saigon có vẽ có hiệu lực.

Trên Kinh Xáng nhiều thây ma đã trôi lình bình theo chiều nước lớn rồng, và tác giả sách này, núp trong một chiếc ghe cột ở gần đó chờ nước lớn để ra khỏi thành phố, thì thấy trên bờ người ta rượt bắn nhau, nên đạn rớt xuống như mưa quanh chiếc ghe.

Ngày 25, lối năm mươi thường dân Pháp, phần lớn là đàn bà và vài đứa bé, bị bắt cóc ở gần Nhà Thờ Đức Bà, với hy vọng vô lý và ngu xuẩn là để làm cho Pháp nãn chí. Chỉ có lối ba chục người được vớt lên từ Kinh Xáng, phần lớn là đàn bà và trẻ con.

Cũng trong ngày đó, người ta phát giác được ở trong khu gia-cư Cité Hérault, trên Tân Định, nhiều thây ma của thường dân Pháp, người lớn và trẻ con, đàn ông và đàn bà, bị hủy-hoại một cách dã man; có hơn trăm người chết và mất tích. Đó là công trình của bọn côn đồ của Tổ Ký do Việt Minh tuyển mà người ta đã thấy đi diển hành ngày 2 tháng 9 dưới biểu ngữ “ Ban Ám Sát Xung Phong”.  

Đêm 25, Chợ Bến Thành cháy và lửa đe dọa hết trung tâm Saigon. Nhiều cửa hàng gạo của Pháp ở ChộLớn bị đốt cháy.

Ngày 26 tấn công mạnh vào bến tàu, các kho hàng bóc lửa. Quân nổi lọan luôn luôn mơ ước tiêu diệt thành phố bằng nạn đói và có một lúc làm chủ các lò heo. Trên đường lên sân bay TânSơnNhứt, do nhóm Cao Đài kiểm soát, Đại-tá Mỹ Peter Dewey, trong OSS (về sau là C.I.A.), bị hạ. Ông ấy đến Saigon ngày 2, để lo việc hồi hương lính Mỹ bị Nhựt bắt làm tù-binh. Người ta không tìm được xác của Ổng.

Ngày 27, người Pháp có quân Anh-Ấn Gurkhas hỗ trợ, cố gắng phá vở vòng vây thành phố sắp bị thiếu lương thực. Họ đốt hết các nhà lá trong những khu ngoại ô, mà từ đó đã có các cuộc tấn công đêm.

Nhóm La Lutte viết:” trong vùng ngoại ô, kháng- chiến- quân chú ý nhứt đến các đầu cầu, nên có những cuộc đụng độ ác liệt, trong đó có nhiều lính Nhựt đào ngủ tham gia. […] Trong những trận đầu ở ĐaKao, BànCờ, CầuKho, NgãSáu, ChợQuán, VĩnhHội,  ChánhHưng, ThủThiêm, ThịNghè, PhúNhuận, Giađịnh, CâyQuéo, GòVấp, NhàBè, công nhơn và cán bộ trốtkít đánh dưới cờ của Đệ Tứ Quốc Tế. Nhưng những chiến sĩ ấy đã tự động nên Giàu không hề giúp cho võ khí đạn dược hay lương thực. Trong khu ThịNghè, trong số 214 chiến sĩ, tất cả là trốtkít, thì có 210 người bị chết. Đến ngày thứ ba của cuộc chiến thì Trần Văn Giàu ra lịnh giải giáp tất cả chiến sĩ của La Lutte mà chiến đấu không có lịnh của chánh phủ. (Rapport du groupe La Lutte, avril 1948, BDIC, Fo. 455).

Lối sáu chục chiến sĩ trong đòan công-nhân của Sở Xe-điện GòVấp (Tramways de Govap) do Liên Minh (trốtkít) tổ chức, tham gia cuộc nổi dậy, với các nhà lãnh đạo được bầu của họ là Trần Đình Minh và S. mà không theo lịnh của chánh phủ. Họ từ chối không chấp nhận cờ của Việt Minh, và không chịu được gọi là Công Nhân Cứu Quốc , họ chiến đấu dưới lá cờ đỏ, miệng hát Bài Ca Quốc Tế (L’ Internationale) và bài ca

Hành Khúc Của Công Dân, Nông Dân và Chiến Sĩ ( La Marche des Ouvriers, Paysans et Soldats). Người bị chết đầu tiên là  Hồ Văn Đức, thợ may, quê ở MỹTho; Trần văn Nghị, trong “Đoàn cảm tử số 1” bị thương ở AnPhúĐông (GiaĐịnh).

Ngày 29, những đòan thủy-thủ mà người ta tưởng là trung thành với Pháp, đánh chìm một chiếc tàu 400 tấn, 2 chiếc tàu kéo (remorqueur), và một cái cầu nổi (ponton) của cái phà trên sông Saigon, chưa tới 800 thước cách Tổng Hành Dinh của quân Đồng Minh.

Đến cuối tháng 9, thì tổng số nạn nhân là : về phía Pháp 21 người chết, 134 mất tích, về phía Việtnam, ít nữa 200 người chết, 200 bị thương và 23 bị bắt có súng trong tay.

Tướng Gracey ra lịnh cho Terauchi phải tái lập trật tự cho Đồng Minh: “Tất cả vùng Thủ Dầu Một và BiênHòa phải được quét sạch không còn thấy An-na-mít võ trang, những cái ụ trong vùng Đông-Bắc và Tây-Nam phải được phá hũy. Bọn chiến sĩ an-na-mít phải bị lột súng và bắt giữ, bắn chết nếu kháng cự. Đường xá phía Bắc Saigon phải được hòan toàn an-ninh cho quân Đồng Minh và cho việc vận tải thực phẩm và mọi vật dụng. Bải nhiệm tức khắc và xữ bắn ngay những người Nhựt quân-nhơn hay tư-nhơn đã cộng tác với bọn phản-lọan an-na-mít.” (theo sách của J.M. Hertrich, tr.165-166).

Đã cộng tác cách nào? Tham Mưu Trưởng Nhựt Numata về sau có xác nhận rằng hơn một trăm lính của Ông đã đào ngủ theo người An-na-mít, và nhiều lính khác bán súng cho họ.

Báo The Daily Express ngày 14 tháng 10, thuật lại chuyện 50 người  chết trong số 500 người đã tấn công vào phía Bắc của Saigon như là câu trả lời bằng võ lực của quân kháng chíên đối với sự đàn áp của Nhựt Bổn.

Báo The Manchester Guardian ngày 27 tháng 10, cho là việc dùng quân Nhựt để càn quét một số vùng là một  chuyện kỳ-lạ, nhưng cũng nhấn mạnh là quân Đồng Minh không đủ để tái lập trật tự.

Sự trinh-thám bằng máy bay báo cáo có cả ngàn kháng chiến quân tụ hợp trên đường Saigon-MỹTho, và báo The Daily Telegraph ngày 1 tháng 10 đăng tựa là “Không quân sẽ giải quyết xong việc nổi lọan”.

Tuần lể chót của tháng 9  là tuần lể đẩm máu, kết thúc với ý nghĩ là sẽ có một cuộc hưu-chiến. Cuộc hưu–chiến ấy gần như là đã xác-thực ngày 2 tháng 10.

 

3- La trêve ( Cuộc hưu-chiến.) (tr.353-358).

Ngày 3, khi tại tổng hành dinh của quân Đồng Minh, Tướng Anh Gracey, Ông Cédile đại-diện của Tướng Pháp Leclerc, và 3 đại diện của Vịêt Minh là L.S.Phạm Văn Bạch, B.S.Pham Ngọc Thạch và Ô.Hoàng Quốc Việt có một cuộc hợp mặt đầu tiên, trong khi ở đường Catinat dân chúng Pháp, rất khoan khoái, hoan nghinh “toán đánh úp”(commandos) của Đoàn Quân Viển Chinh Pháp đang diễn-hành, trong lúc mà các tàu chở hàng (cargos) đang đổ lên bộ nhiều toán quân khác. Không có bóng của một người địa phương nào hết, làm cho phải nhớ lại cái cảnh của ngày 23 tháng 9 . Ký giả Hertrich, có đi ngang qua đó, viết : “ Phải chăng chúng ta đang ở trong một xứ Đông Dương không có nguời Đông Dương ?”

Cùng ngáy hôm ấy nhóm trôtkít La Lutte, thường phát báo Kháng Chiến  cho vùng tỉnh ChợLớn, kêu gọi dân chúng đừng có nuôi hy vọng về thiện-chí của Pháp, mà phải sẵn sàng để tái chiến- đấu ngay với bọn đế-quốc.

Ủy Ban Nam Bộ còn mong “đi đến một cuộc điều đình” có kết quả như Giàu đã hứa hồi ngày 22 th.9 chăng ?  Mổi bên ra điều kiện của mình. Cédile đòi phải trả những con tin và nộp xác của đại-tá Dewey; Việt Minh đòi phải nhìn nhận Việt Nam độc lập. Saigon vẫn còn bị bao vây và sắp chết ngộp; lịnh bãi công bãi thị chưa được hũy bõ.  Những cuộc đàm phá sẽ thất bại.

Trong lúc đó thì ngày 5, Tướng Leclerc đến Saigon. Ông đến ở trong dinh quan Tòan Quyền và cho biết tàu của Hải Quân Pháp sắp tới, với xe thiết giáp, xe gắn liên-thanh (automitrailleuses) và quân lính, với thêm 12.000 lính Anh-Ấn Gurkhas nữa. Tướng Leclerc cũng tiên-đoán sẽ tái lập tình hình trong vòng một tháng.

Ngày 11 tháng 10, một sĩ quan Anh, một  Ấn , và ba lính Gurkhas rơi vào một ổ phục-kích ở Thạnh Mỹ Tây,về hướng Đông-Bắc của Saigon. Cuộc hưu-chiến chỉ có được một tuần lễ.

Ngày 12, dân bị đánh thức dậy vì tiếng ồn ào càng ngày càng tăng của tiếng súng liên-thanh, của tiếng lựu đạn nổ, của tiếng súng cối bắn đi. Một đại-đội lính Gurkhas chiếm GiaĐịnh và Gò Vấp, ngoại-ô Đông-Bắc và Tây-Bắc của thành phố Saigon, họ bắt lối 50 người Việt, trong đó có một nữ y-tá. Và trong lúc mà Tiểu đòan 5e RIC của Pháp tấn công Phú Mỹ, ở phía Tây, thì một chi-đội quân Anh-Ấn cố gắng giải tỏa khu ChợLớn vẫn do Bình Xuyên nắm giữ. Chúng dùng côn đồ đốt hết nhà lá của các xóm lân cận, không biết phải trái.

Báo Daily Express  ngày 15 và báo Times  ngày 16, thuật lại cuộc phản-công của dân địa phương như sau: từ ngày 13, ba toán quân an-na-mít, đã vào được Saigon nhưng không có kết quả lắm, một từ phía Nam, một từ phía Tây-Nam, và toán thứ ba từ phía Đông-Bắc; họ bị quân Gurkhas trang bị đầy đủ hơn đẩy lui. Quân Pháp núp dọc theo sông Saigon bắn chận đòan thuyền đến tiếp viện. Mặc dầu vậy quân kháng chiến cũng đến được tới Chợ Bến Thành, đốt cháy các cửa hàng của chợ; một trận đánh  ác liệc xẩy ra ở ngay trung tâm Saigon. Và lính Gurkhas đã chiếm được tổng hành dinh an-na-mit ? chỉ là tin đồn.

Cũng là ngày 13, lúc nữa đêm, người bản xứ đột ngột xuất hiện từ các đám ruộng quanh sân bay Tân Sơn Nhứt đang có nhiều máy bay chuyên chở của Hàng Không Hòang Gia Anh (RAF), chiến đấu cơ Spitfires, và máy bay của Nhựt Bôn, họ bò đến lối 300 mét gần đài kiểm soát (tour de contrôle) rồi bị đẩy lui. Nhiều tóan khác đánh vào đài vô-tuyến-điện (TSF) ở PhúThọ, nhưng họ không cắt được sự liên lạc của Đồng Minh với thế giới bên ngoài vì đến sáng sớm họ bị xe thiết giáp của 300 lính Gurkhas có lính Nhựt bị bắt buộc phải yễm trợ  đẩy ra xa tới 3km. 

Bố-ráp (khủng-bố và rafle) của Pháp và Ấn trong các ruộng và các làng kế cận. Hai sĩ-quan Nhựt, không mặc đồng-phục Nhựt, chiến đấu cho phía an-na-mít, bị xữ bắn tại chổ.

Lối 7 km về phía Đông-Bắc Saigon, ở cầu BìnhLợi, lính Gurkhas và lính Pháp gặp phải một cuộc kháng cự tuyệt vọng của lối một trăm kháng chiến quân. Thì xóm bên cạnh bị đốt ra tro, một cái chùa bị sụp đổ. Dân làng bỏ nhà của họ bị đốt cháy để chạy trốn và 800 người bị bắt. rồi bị đưa về Saigon để xữ.

Nhà văn Harold Isaacs có dự một buổi xử của Tòa Án Binh. Đến trước cái gọi là tòa-án, ngay lúc trước khi bước vào, ông đã thấy bất bình trước cái vô-dụng của tên sĩ quan Pháp đứng gát ở đó; nó chỉ biết có một chuyện là Saigon không còn những cô An-na-mít đẹp nữa và tỏ ra thờ ơ với cái cảnh bi-thảm của những tù-nhơn, tay bị xích, mình trần, ngồi giữa đám lính canh cằm súng có gắn lưởi lê:

“ Tên sĩ quan chỉ vào các tù nhơn, và nói:

   - Đấy là những mẫu (spécimen) của da vàng.

Tôi nhìn tên gác Pháp đứng cạnh Ông và nghĩ: “Đây là những mẫu của da trắng”. [..]

Ở phía trong tòa án, những người bị-cáo đứng trước các quan tòa sẽ xử họ, là năm ông sĩ-quan Pháp ngồi dưới bóng ba cây cờ. Ông chánh-án là đại-tá Rougier, người cao lớn, vẻ khô khan và nóng nảy, không ngưng lấy kiếng ra rồi đeo kiếng trở lại, mắng nhiếc tù nhơn, mà có vẻ như họ không hiểu người ta chờ đợi cái gì nơi họ.  Thông ngôn, một người lai, cũng la hét gần như lọan thần kinh, giống như ông chánh án. Còn can-phạm thì nói thật nhõ, rất khó nghe. Không có ai được cho nhiều thì giờ.[..]  Tám phút cho mỗi người trong năm người đầu. Không có nhơn-chứng, không có đối chất.[..] Hai thanh niên được dẫn tới trước tòa là Phạm Văn Tâm 18 tuổi và Trần Duy Gian, 19 tuổi. Chúng nó bị cáo về tội đi phát  truyền đơn. Chúng nó đứng ngay thẳng và ăn nói rõ rệt. Trần (Duy Gian) nói tiếng Pháp rất giỏi. và trả lời không cần thông ngôn. Cả hai nhìn nhận có thuộc vào một nhóm đột-kích tuyên truyền (un groupe de choc propagandiste). Cả hai nhìn nhận có đi phát truyền đơn. Ông tòa nhìn chúng nó một cách xấc xược, đeo kiếng lại và đọc một tờ truyền đơn: “Các anh không được đánh người Anh, người Ấn hay người Nhựt” …( và hỏi:)  “ Vậy còn người Pháp thì anh làm gì ? “

- Thưa tôi không biết, tôi chỉ nhận được lịnh đi phát truyền đơn và tôi chỉ làm việc đó.

-Nhưng anh nói anh thuộc vào một nhóm đột kích (un groupe de choc) nghĩa là đánh phải không ? Nếu anh không phải đánh người Anh, người Ấn, người Nhựt thì anh đánh ai ?

-Cái gì tôi đã làm là phát truyền đơn.

Ông biện-lý còn ít lời hơn bình thường. Tù nhơn đã thú nhận, tức là chúng nó có tội.

Ông luật sư thì hùng-biện hơn bình thường. Ông nêu lên tuổi trẻ của can phạm, và ảnh hưởng không tốt của những cuộc gặp gỡ trong tù, [..] Khi luật sư dứt lới thì ông tòa đứng dậy và mọi người đứng theo [..]. 15 phút sau tòa tái hợp. Các can phạm bị kết án 5 năm khổ sai, còn Trần (Duy Gian) thì bị 7 năm. Tất cả tù nhơn bị xích và dẫn đi.

- Kế tiếp. Đại-tá Rougier hét lên có vẻ sốt ruột.

Ông luật sư nói nhõ với tôi, có vẽ hoàn tòan vừa ý “ đó là những hình phạt còn nhẹ, trong 93 ca trước có 4 án tử-hình, 69 án từ 10 đến 13 năm khổ sai hay là tù.”   ( theo Sách của H. Isaacs, đã nhắc, op.cit. tr.137-140).

Còn nhà văn Hertrich thì viết một cách chua chát: “ Rồi đây sẽ đến  những công chức thực thụ, là bọn tự-đắc, bọn tham lam, bọn bất tài, . Rồi đây sẽ đến nhiều lính khác.  Và cuộc giết chóc sẽ tiếp diễn phía bên này cũng như phía bên kia. Chiến tranh tái chiếm (thuộc địa) đã bắt đầu.

Ngày Thứ Hai 15, nhiều chi đội mới của sư đòan thiết giáp của Tướng Leclerc được đổ bộ. Những cuộc diễn hành của xe thiết giáp và xe có gắn liên thanh được tổ chức đi trên đường Catinat dưới sự hoan hô nồng nhiệt của dân chúng Pháp. Đến chiều, một tóan thiết giáp đi về phía ChợLớn. Đường xá vắng hoe. Thỉnh thoảng có tiếng súng dài theo Kinh Xáng (Arroyo chinois).

Ngày 17, đụng độ dữ dội giữa quân kháng chiến giữ cầu Thị Nghè và thủy-quân-lục- chiến với lính Pháp muốn chiếm lấy cầu ấy.

Ngày 21, trong lúc mà lính Anh-Ấn Gurkhas lục soát khu Phú Thọ, thì quân Bình Xuyên  làm sập được các cột trụ của đài Vô-Tuyến TSF rồi rút về phía Nam và Đồng Tháp Mười.

Cuộc tái chiếm thuộc địa tiếp tục quy mô hơn: ngày 23 và 25, những trục giao thông Thủ dầu một—Biên hòa--Saigon, làm cái tam-giác được gọi là “khu căn-bản” (zône clé) được lính Anh-Ấn giải tỏa ; nhưng  kháng chiến quân vẫn còn tồn tại trong những vùng rậm rạp.

Ngày 25, xe thiết giáp phóng xuống MỹTho là nơi trú ẩn của Ủy Ban Hành Chánh  Nam Bộ :

Nhà văn Hertrich viết: “ Đoàn xe thiết giáp tiến tới chậm chạp. Chỉ có một cái cầu đã bị sập, nhưng đường bị cắt bởi nhiều cái hố chống thiết giáp[..] Ở chổ khác thì cây bị đốn được chất đầy đường.[..] Không có một tiếng súng. Nhưng trái lại, vào buổi chiều, hai chiếc xe jeep đi bắt theo chúng tôi [..] bị hỏa lực của một súng liên thanh. Thượng sĩ lái xe bị chết vì một viên đạn trúng ngay tim. Đại-tá Mirambeau và Tướng Salan thì đầy máu. [..] Chúng tôi đi qua những làng vắng hoe, vì dân đã chạy trốn hết từ vài giờ trước, bởi Việt Minh  tuyên truyền rằng người Pháp sẽ giết sạch hết [..]

Vào buổi chiều ngày thứ nhứt thì chúng tôi tới Tân An.[..] Thành phố không có người, bị bỏ hoang.[..] Cờ Việt Minh còn bay phất phới.[..]  Từ Tân An tới MỹTho chúng tôi còn 30 km nữa. Chúng tôi khởi hành hồi 7 giờ sáng, mà cho tới 9 giờ tối mới tới nơi, vì những chướng ngại vật càng ngày càng nhiều. (Theo sách của J.M.Hertrich tr.165-166).

Xe cam-nhông của Sở Mật Thám, có tiếng ác ôn, chạy theo đoàn thiết giáp.

Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, mà trong đó chỉ còn có bọn Cộng Sản Đệ Tam, chạy thoát về Cái Bè rồi về Bến-Tre.  Mỹ Tho bị chiếm một cách dể dàng.

Philippe Devillers, tùy-viên báo chí trong ban tham-mưu của Tướng Leclerc, kể chuyện nối tiếp như sau: ngày 28 đến phiên GòCông bị chiếm, ngày 29 là VĩnhLong, và ngày 30 là CầnThơ. Con đường lúa gạo được mở ra.

Việc tái chiếm những trục giao thông và những trung tâm về phía Bắc sắp bắt đầu. Thiết giáp đi về phía Tây Ninh, là Mecca của người Cao đài. Kháng chiến quân Cao Đài   mà mới đây có tham gia vào việc bao vây Saigon, rút sâu vào rừng rậm của tỉnh TâyNinh. Họ phục kích, quấy rối đòan xe của Pháp, đánh trận hẳn hoi. Đến ngày 8 th.11 họ mới buông súng.

Quân tiếp viện Pháp đến liên tiếp bằng đường biển, và cuộc tái chiếm lan ra ngoài Nam-Kỳ, đến Ban Mê Thuốt, đến Lào, và Nhatrang ở Miền Trung.

Đến tháng Giêng 1946 các tỉnh lỵ miền Tây như Sa Đéc, (ở đó có tàn quân của Đoàn Quân Thợ Thuyền GòVấp tham chiến) Long Xuyên, Châu Đốc, HàTiên, RạchGiá không còn kháng cự nổi. Cuộc tái chiếm tiến đến Mũi Cà mau ngày 5 tháng 2- 1946.

Tướng Gracey rời Saigon ngày 28 th.1-1946, và nhiệm vụ của quân Gurkhas của Ông chấm dứt ngày 5 tháng 3.

Quân của Việt Minh được phân tán và giảm bớt. Bọn C.S. Đệ Tam, vì muốn độc quyền làm chủ, đã giết, lúc nào họ làm được, những nhà lãnh đạo quốc gia và trốtkít, không cần biết tới việc làm của họ đã làm giảm sức của kháng chiến.

 

4 - Les crimes staliniens en Cochinchine(

(Những tội ác của bọn Cộng Sản Đệ Tam ở Nam Kỳ.) (tr.358- 359).

Xin nhắc lại là ngày 9 tháng 9 , Trần văn Giàu đã toan bắt Đức Thầy của Hòa Hảo là Ông Huỳnh phú Sổ, lúc ấy là thành phần của Ủy Ban Nhơn Dân Nambộ; ngày 14, thì Dương bạch Mai bỏ tù Ông trốtkít Lữ sanh Hanh với lối 30 ủy-viên của các Ủy Ban Nhơn Dân đang hợp với ông ấy ở Tân Định; nhắc lại là Trần văn Giàu lúc chạy ra Chợ Đệm với chánh phủ của ông ngày 22 tháng 9, sau khi phục rượu cho tên Hai Râu sai mèm thì sai tên này  giết Bùi quang Chiêu với Dương văn Giáo trong nhóm “Lập Hiến” và cựu trốtkít Huỳnh văn Phương.

Cuối tháng 9, các nhà lảnh đạo của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt (FNU) rút về khu Lò Gốm trong ChợLớn, có hợp lại với nhau để thảo luận thì một thiểu số (Hồ văn Ngà, Nguyễn văn Sâm, Trần văn Ân, Lâm ngọc Đường, v.v.) chủ trương “đi chung mà đánh riêng” với bọn C.S.Đệ Tam, còn đa số, (Kha vạng Cân, v.v.) thì chủ trương sát nhập về quân sự với Việt Minh  .Trần quang Vinh, mà vừa trước khi có cuộc bao vây Saigon, đã không chấp nhận việc sát nhập ấy, nên đã trao quyền chỉ huy của Ông cho Nguyễn văn Thành để cho ông này đem quân (Cao Đài) đi với bọn C.S.Đệ Tam (theo Trần văn Ân).

Hồ văn Ngà vào tháng 10 sẽ bị Nguyễn văn Trấn trong Quốc Gia Tự Vệ Cuộc bắt, rồi tới phiên Trần quang Vinh; nhưng ông này thoát được, sau 3 tháng ngồi trong tù của Việt Minh với Hồ văn Ngà.

[NLV.: Còn Hồ văn Ngà thì sau đó bị giết chết, (cùng với Nguyễn văn Sâm), ở dưới Khu IX  (CàMau.) khi quân Việt Minh bị dồn xuống đó trước khi được tập kết ra Bắc.]

Bây giờ trở lại với bọn trốtkít, mục tiêu chính của bọn xíttalinít.

Đêm 23 th.9 ở Đakao (Saigon), bọn giết mướn (sicaires) củ Dương Bạch Mai, đã ám sát Thơ Ký của Ủy Ban Saigon-Chợlớn của La Lutte là Lê Văn Vững, trước nhà của ông khi ông đi làm việc về. Vài ngày sau cô giáo  Nguyễn thị Lợi – là người đã cùng với ông Vững làm “sống lại” tờ báo La Lutte sau khi Nhựt đầu hàng- bị hạ sát ở Cần Giuộc (ChợLớn).

Tháng 10 sẽ thấy trong khấp Nam Kỳ cực-điểm của tội-ác của bọn xíttalin- trong sự ồn-ào và sự cuồng bạo- không những do bọn giết mướn của Dương Bạch Mai trong các tỉnh Miền Đông, mà còn do bọn của Nguyễn văn Tây ở Miền Tây nữa. Ở Thủ Dầu Một, BiênHòa, TâyNinh, cũng như ở MỹTho, Tân An, Cần Thơ, những trốtkít và cãm tình viên đều bị tiêu diệt.

Ngay khi cuộc tấn công của quân Ấn Gurkhas vào ChợLớn bắt đầu vào ngày 12 tháng 10, Ủy Ban Nam Bộ đã rút về MỹTho và ở đó họ đã bắt đầu cuộc “thanh-trừng” có hệ-thống.

Luật-sư Hình Thái Thông mà chúng ta đã thấy hoạt động để hồi-sinh báo La Lutte hồi tháng 8, bị Tự-Vệ-Cuộc của Việt Minh bất ngờ bắt trong lúc ông đang chủ tọa một buổi hợp của những đại-biểu của các ủy-ban hành động của các làng và tổng kế cận. Ông bị bắt cùng với những đại-biểu và bị ám-sát. Đến năm 1951 người ta mới tìm thấy ở Quơn Long (ChợGạo Mỹ Tho) xác của ông trong một mộ-địa cùng với thây của cả trăm người đã bị tra tấn.

 

5 - Il faut abattre immédiatement la bande des trotskistes.

(Phải tiêu diệt ngay bọn trốtkít.) (tr.359-361)

Đó là lời kêu gọi ngày 23 tháng 9-1945, trong báo Cờ Giải Phóng, cơ quan chính thức của Ủy Ban Trung Ương, lời  kêu gọi ám sát được chứng ninh như sau:

Ở Nam Bộ chúng nó (bọn trốtkít) đòi vừa sự võ-trang quần chúng là việc làm kinh-hãi sứ-mạng của người Anh (épouvante la mission anglaise), vừa thực hiện nguyên vẹn cuộc cách mạng tư-sãn dân chủ

( révolution bourgeoise-démocratique) trong muc-đích chia rẽ mặt Trận quốc-gia ( nghĩa là Việt Minh)  và làm cho địa-chủ chống đối cách mạng.

Trần văn Thạch, Phan văn Hùm, Phan văn Chánh, Ưng Hòa, Lê văn Thu, Nguyễn văn Sổ,  đã tụ hợp được ở Xuân Trường (ThủĐức)  một nhóm người sẵn sàng chiến đấu. Dương Bạch Mai bắt Thạch, Chánh và Sổ  Những người này bị bắn ở Kiến An (Bến Súc,ThủDầu Một) khi tỉnh này bị quân Ấn Gurkhas tấn công, cùng với lối ba chục người bị giam khác trong đó có Nguyễn văn Tiến, cựu quản-lý báo La Lutte mới được ở PouloCondor thả về và anh Ngôn, thợ của Arsenal.

Phan văn Hùm cũng bị giết chết một cách lạnh lùng hồi tháng 10-1945, với nhiều tù-nhơn chánh trị khác, và cũng ở Biên Hòa Dương bạch Mai đem bắn Lê thành Long, trưởng đoàn ThanhNiên TiềnPhong của Cap Saint-Jacques, cựu biên-tâp-viên của báo La L:utte, và anh Vàng, một thành-viên khác của nhóm La Lutte ở Biên Hòa.

Lịch-sử chính thức của Hà Nội (sách Cách Mạng Tháng Tám. Quyển III, tr.319)   có đề cập tới việc bắt các người trách nhiệm của báo La Lutte với ba cái sai lầm là: 1)- họ không có “trốn” mà rút về Xuân Trường chớ không phải Dĩ An, trong cuộc đánh nhau với bọn thực-dân; 2)- trong thời Hưu-Chíến họ không phải xuất bản báo Độc Lập (Indépendance) mà báo  Kháng Chiến (Résistance); và 3)-không nói gì tới việc họ bị ám sát.

Bị đe dọa sẽ bị tiêu-diệt bởi những đám có võ trang của Việt Minh , nên Đoàn Thợ Thuyền của GòVấp phải rút về ĐồngTháp Mười và nhờ có “Đệ Tam Sư-Đoàn” của Nguyễn Hòa Hiệp mà không bị tiêu diệt. Trong lúc rút quân đó, Đoàn đã mất trong những trận chiến với quân Pháp lối hai mươi người, trong đó có Chị Quý , nử y-tá, các anh Đồng, Thiện, Trần văn Thanh, Nguyễn văn Hương, Trần quốc Kiểu, và sáu đồng-chí đến từ các đồn-điền ở TâyNinh.

Nguyễn văn Linh, Lê Ngọc, Nguyễn văn Nam và Ngô văn Xuyết, hợp nhau ở nhà anh này ở Tân Lộ, lối 4 km   phía Đông Thủ Đức, thảo một  bản văn chánh-trị, giải thích lập trường chiến đấu của Liên-Minh (La Ligue) và của Đoàn Thợ Thuyền (Milice Ouvrière). Nếu bọn chó săn của Dương bạch Mai đến bắt họ thì họ sẽ tự vệ bằng võ khí. Bản văn viết xong, họ theo Đoàn rút về ĐồngThápMười, là con đường rút lui của những kẻ bị gọi là “phiến-lọan” trong thế-kỷ trước, nơi mà xe thiết-giáp của Pháp không đến được, và là nơi mà sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, một số không nhỏ người nhà quê đã không giấu-giếm theo đạo CaoĐài  hay là theo đạo của Phật Thầy Hòa Hảo  để thoát khỏi sự khủng bố vì nghi là cộng sản. Ở đó nghèo vô cùng, nhưng chúng tôi được đón tiếp với nhiều thiện cãm.

Trong lúc mà chúng tôi tiến về vùng bùn lầy vô tận này thì phi-cơ Pháp rượt theo và bắn vào chúng tôi.

Đựơc giao cho nhiệm vụ tìm một máy thu thanh radio, Xuyết bị bắt trên sông Vàm Cổ trong tỉnhTânAn mà thầy giáo Trọng được Việt Minh cho làm tỉnh trưởng. Ông bị giam cùng với lối ba chục người “bị tình nghi” khác ở trong đình làng Mỹ Phước, Ông được chứng kiến vụ hành-quyết không phán-xử của ba người công giáo đã chạy trốn ra khỏi TânAn sau khi thành phố này bị quân  Pháp chiếm, còn người làng thị “được mời” vổ tay hoan nghinh vụ hành quyết này. Ông cũng được nghe tiếng la hét kêu vang từ bên phòng kế cận của một gia-đình ngừơi nhà quê bị đánh đập vì bị nghi là đi do-thám chỉ vì họ đi vô vườn gần đó lấy khoai lang.

Ông Xuyết lượm được một mảnh giấy và viết trên đó vài hàng chữ nói về dĩ-vãng của ông và mục đích của sự tranh đấu hiện tại của ông, để nếu dời sống của ông mà bị chấm dứt nơi đây, thì may ra có người đọc được và suy nghĩ.

( NLV. bàn thêm: Phải chăng Ông Ngô Văn, tác giả của sách, đúng là Ông Ngô văn Xuyết đựơc kể trong chuyện ở đây? Vì chỉ có như vậy người viết mới biết được những ý nghĩ thầm kín của người trong chuyện, là một chuyện có thật được thụât lại chớ không phải là một chuyện bịa đặt của tiểu thuyết.)

Được chuyển qua một nhà thờ lợp lá trong làng Song Xoài, cũng biến thành một trại giam, thì ông Xuyết gặp lại được một số bạn cũ trong nhóm La Lutte trong đó có nhà trắc-địa (géomètre) Thu ở MỹTho, là người đã giúp chia ruộng đất cho dân quê. Cai ngục là một cựu “tù nhơn yêu quý” mới ở Côn Đảo về. May thay, Đệ Tam Sư-Đòan của Nguyễn Hòa Hiệp đi ngang qua đây nên giải thoát được hết tù nhơn.

Trong khi mà Trần đình Minh bị chết ngày 13 tháng 1-1946 trong lúc đánh với đoàn viễn-chinh Pháp ở Mỹ Lợi (SaĐéc) thì Việt Minh  ám sát các công-nhân Lê Ngọc, Lê Kỹ, và Lê văn Hương trong Đoàn Thợ Thuyền (Milice Ouvrière) của Hóc Môn vì tội…“việt-gian”.

Như vậy thì từ cuối tháng 9-1945 đến tháng giêng 1946, vì những đòn liên-hợp của thực-dân và bọn xít-talin Đệ Tam, nhóm người cách mạng quốc tế (trốtkít) bị lôi cuốn trong cuộc gió lốc của cuộc chiến giành độc lập, dần dần bị tiêu diệt. 

Khi Bảy Viễn biết được những vụ ám-sát Tạ Thu Thâu, Huỳnh văn Phương, bà Bác-sĩ Hồ vĩnh Ký và chồng bà, với bao nhiêu người khác và cũng tự thấy mình bị đe dọa thì ông dứt với Trần văn Giàu và treo giá đầu của y, nhưng Trần văn Giàu đã bị gọi về Bắc hồi tháng 10, ngoài tầm tay.

 

6 - La “pacification”  (Cuộc “bình định”) (tr. 361-364).

Năm 1930 danh từ “Khủng bố trắng”  đã được thông dụng. Cuối 1945 và đầu 1946 hai danh từ báo động được phát sanh ra trong các làng xã là: “Tây tới” và “Tây đi bố”

(NLV thêm một danh-từ:” Coi chừng Bố-Ráp” ( là khủng bố và rafle=arrestation en masse faite à l’ improviste) . Bởi vì đâu đâu ở nhà quê, những cuộc chinh phạt của Pháp cũng được tái diễn.

Một buổi tảng sáng sớm tháng giêng 1946, làng Tăng Phú ở sau lủy tre xanh cách Thủ Đức 4 km về phía đông, bị đánh thức vì tiếng nổ rùng rợn của róc-kết, làm tróc gốc các các bụi tre, nổ tung các bụi dứa, thì dân làng chạy đi trốn hay là chạy đi núp, ví những tiếng đó báo hiệu sẽ có bố-ráp.

Rồi thì có hành động hung bạo của lính (soldatesque). Nhà lá nhà ngói gì cũng đều bị lụt soát tới cùng, tủ nào cũng bị đập bể tung, đền thần của làng cũng không được tha. Đàn bà, con nít, ông bà già bị dẩn ra bên lộ. Thanh niên bị bắt dẩn tới cầu sắt, bắn chết tại chổ, rồi đạp xuống sông. Đến đêm một người thoát chết trở lại ruộng dưa để lấy xác chết của em nó bị ném ở đó, thì bị tan xác vì một trái lựu đạn gài ở dưới cái thây. Một người nhà quê không ngừng cuốc đất, bị bắn chết thẳng đích (à bout portant); một người khác trong lúc chạy trốn bị bắn xuyên đầu gối; nhiều ngừời khác trốn trong ruộng hay trong rừng bị bắt đem đến đồn lính ở đài vô-tuyến TSF  của Chợ Nhỏ ở đầu làng., nhốt trong một cái hầm thiếu hơi thở và không ánh sáng, rồi một số bị bắn chết vì tình nghi. Ở Gò Dưa, cách Thủ Đức 4 km về phía tây, vài cái đầu bị chặt được treo trên hàng rào của đồn lính đối diện với chợ.

Bà Jeanne Cuisinier, trong phái-đòan thổ-tục-học (mission ethnographique) của Bộ Quốc Gia Giáo-Dục dẫn chứng cho sự dã-man của cuộc bình-định :

Bọn kháng chiến thường hoạt động nhiều cây số ( ít nữa 15 hay 20 km) xa làng của họ, nhưng lính (Pháp) trả đủa vào làng gần nhứt chổ họ bị đánh, bằng cách hoặc đốt hết làng, hoặc đốt một phần làng, hoặc bắt một số người, hoặc “quét sạch” hết  tất cả, nhà cửa và người. Ở Saigon tôi được nghe một thiếu-úy Lê Dương (Légion étrangère) kể chuyện lại cho hai người bạn của ông cuộc tấn công ở Hóc Môn, và kết thúc câu chuyện như sau:

“ Chúng ta có mất mát, nhưng chúng ta cũng trả đủa được và gây thiệt hại . Trong 6 km bề sâu, không còn gì hết, từ vịt đến trâu, từ đàn-bà đến trẻ con, chúng ta đã quét sạch hết”(nguyên văn).

 Bà kể lại “thành tích” của quân đội (Pháp) trong những tháng 8, 9,và 10 năm 1946:

Một y-sĩ Việt nam ở MỹTho cho tôi biết những việc sau đây: Trên đường từ MỹTho qua BếnTre, ván lót của một cây cầu bị quân kháng chiến gở hết. Quân Pháp đến đốt hết 20 cái nhà.

Một đòan xe nhà binh Pháp bị tấn công ở Cai Lậy, cách MỹTho 30 km-120 cái nhà bị phá hủy (tháng 8-1946);

Ở BếnTre một sĩ quan Pháp bị giết, 80 người bị bắt, trong số đó 5 người bị bắn chết (tháng 9-1946);

Ở Chí Hòa cái đồn bót bị quân kháng chiến tấn công, nhưng sau khi chúng nó bị đánh lui, quân lính lại giết gần hai mươi người Việtnam và Tàu.

Bà tả như là công việc thường xuyên hằng ngày, những vụ lạm-dụng và cướp bóc, những vụ bắt bớ vô cớ và hành-quyết không xét xử :

Trong những đêm 13, 14, và 15 tháng 10, những vụ cướp bóc đặc biệt “có lợi” (fructueux) ở Hóc Môn, Bà Điểm, và GòVấp, cho lính thực-dân (soldats de la coloniale) […]

Những người bị Sở Mật Thám (la Sureté)[…] bắt thừơng được thả ra sau khi trả một số tiền lớn. Nhưng việc bắt tù-nhơn chuộc tiền không phải là đặc-điểm riêng của Sở Mật Thám. Ngừơi ta còn cho tên những công chức và số tiện họ thu được trong vài tháng hay vài ngày. […]

Ở MỹTho người quản-lý chợ là Ông Razzanti nói là vì trước kia nhà của ông bị Nhựt-bổn cướp phá, nên bây giờ ông lấy bất cứ cái gì ông thích, bất cứ ở đâu, để bù lại sự mất mát mà ông đã phải chịu . Người ta thấy ông xách ra khỏi nhà hai bác sĩ Tươi và Cẩm ba va-li đầy đồ quý giá và hai cặp ngà voi.

Ở Cai Lậy, ông chủ quận là ông Bé, trao cho một người bạn ở MỷTho một số tiền 12 000 đồng bạc sau hai tháng tại chức.

Ở Ô Môn, ông chủ đồn bót là ông Retrosky đem về cho vợ ở CầnThơ 30.000 đồng bạc sau có mười ngày nhậm chức.

Ở CáiBè (tỉnh MỹTho) lối sáu chục điền-chủ bị bắt và được thả sau khi đóng từ 5.000 tới 10.000 đồng bạc. Trong số có hai anh em ông Liêm đã trả 15.000 đồng thì cả hai được thả. Còn thầy giáo Mẫn không có số tiền đòi chuộc thì bị hành quyết.

Ở An Hóa (MỹTho) hai người Tàu bị nhà chứ-trách quân sự bắt, bang Hoa-kiều phản đối với viên sĩ quan xin ông thả cho hai người đó. Khi nhận được thơ phản đối thì viên sĩ-quan đem hai người ấy ra bắn, bắt cả gia-đình của họ và nói: “ Nếu còn đứa nào phản đối nữa thì tao sẽ đem bắn hết. Tụi bây có thể báo cáo với thằng c…chánh chủ tỉnh (informer ton c…administrateur)” .

Ông Nhường, thơ ký của chánh chủ tỉnh, kết luận: “Đây là cuộc thất bại thứ bảy trong một tháng[…] Ở chỗ tôi trên Sa Đéc cũng vậy; ở chỗ anh họ tôi trên VĩnhLong cũng vậy.  Ở đâu đâu cũng là tâm-lý đó. (tháng 9-1946).

Cũng ở AnHóa một thầy giáo bị bắt, xét trong người có một tờ báo lậu. Trường hợp của ông đáng lẽ phải được sĩ-quan ở Rạch Miểu (MỹTho) cứu xét, nhưng ông thanh tra tiểu-học can thiệp và gởi cho viên sĩ-quan một cái thơ giải thích gì đó. Khi nhận được thơ, viên sĩ-quan liền đem thầy giáo ra bắn (tháng 9-1946).

Ngày 19 tháng 9-1946, vào buổi chiều, một số lính lê-dương (légionnaires) của quận Mõ Cày (tỉnh Bến Tre) xong vào nhà của một ông đồ 80 tuổi là Ông Dương Văn, đánh đặp ông và bắt con gái của ông là cô Dương thị Long (30 tuổi, còn độc thân) với một thanh niên khác ở đó […]. Họ lôi hai người ấy đến bót Mõ Cày hỏi cung và tra tấn chúng trong hai ngày liền. Cô Lợi mới biết là mình bị buộc tội có người em chồng đi trong bưng và mình “tuyên truyền cách mạng” cho lính lê-dương.[…]. Cô Lợi và người bạn của cô bị lôi ra gần bờ sông.[…]. Cô cởi sợi dây chuyền có một mề-đay trang sức (un médaillon) cô đang đeo trên cổ, đưa cho tên lính và nói: “ Hãy giữ cái nầy làm kỷ-niệm để nhớ tới một người con gái đã chết vì yêu nước mình.” Hai cái thây được bày trên bờ sông cho tới ngày hôm sau thì bị đạp xuống sông. (tài liệu: CEMTRI, Paris, Fonds G.Bloch).

Như vậy một cái chết bất ngờ đến cho làng mạc, những cuộc chinh phạt thường tái diển ở cùng một nơi; sự ghê-tởm và sự kinh-hãi đẩy thanh niên chạy trốn ra bưng. (le dégôut et la peur poussent les jeunes à s’enfuir dans le maquis.)

                                                                                   

NLV. tháng 7-2005.