Tiền Giang

ĐỊA LƯ TỰ NHIÊN: SÔNG,  RẠCH,  KINH, AO

 

Tiền Giang có hai con sông lớn chảy qua, sông Vàm Cỏ ở phía Bắc và sông Tiền ở phía Nam. Cùng với các chi lưu của nó đă tạo nên một bức tranh thủy thế hết sức sống động và đa dạng góp phần làm giàu đẹp cho tỉnh Tiền Giang.

I - SÔNG TIỀN

Sông Tiền là một nhánh thuộc vùng hạ lưu của lưu vực sông Mêkông. Sông Mêkông (từ Lào là Mêkông có nghĩa là sông mẹ) bắt nguồn từ vùng núi tuyết trên cao nguyên Tây Tạng ở độ cao 5.000m. Sông Mêkông chảy qua năm nước: Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi mới đến nước ta. Mêkông là con sông dài nhất Đông Nam Á. So với những con sông lớn trên thế giới nó được xếp vào hàng thứ 10 về lượng ḍng chảy (475 tỷ m3/năm) và chiều dài (4.200km) đứng thứ 5 về diện tích lưu vực (795.000km2).

Sông Hậu chảy thành một ḍng thẳng tắp theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đến gần cửa biển mới tách ra thành hai cửa lớn Định An và Trần Để.

Sông Tiền cũng chảy theo hướng đó, tới Vĩnh Long nó được tách làm 3 nhánh lớn: nhánh Hàm Luông, Cổ Chiên chảy qua địa phận của tỉnh Bến Tre và đổ ra biển bằng hai cửa cùng tên. Nhánh Mỹ Tho chảy qua địa phận Tiền Giang và đổ ra biển bởi ba cửa: cửa Tiểu, cửa Đại và cửa Ba Lai.

Hướng chảy của đoạn này gần như từ Tây sang Đông so với lượng chảy ban đầu (trước khi đến địa phận của Tiền Giang) Tây Bắc – Đông Nam. H́nh thái sông phức tạp, các vực sâu vào băi bồi xen kẽ nối tiếp nhau, mà sâu nhất có thể tới 40m. 

Sau vị trí Phnom Penh, nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ ra biển Đông qua 2 nhánh là Sông Tiền (Mekong) và Sông Hậu (Bassac). Đoạn sông Tiền từ chỗ tiếp giáp với sông nhánh Hàm Luông đến đầu cù lao Tàu cũng được gọi là sông Mỹ Tho. Xét theo đặc điểm tự nhiên, 92% diện tích của tỉnh Tiền Giang thuộc lưu vực Sông Tiền và sông nầy là nguồn cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt chủ yếu cho cả tỉnh. Sông Tiền cùng với các nhánh của nó cũng là môi trường rất thuận lợi cho nuôi trồng và phát triển thủy sản.

Chiều dài sông Tiền tính từ chỗ giáp ranh với tỉnh Đồng Tháp đến đầu cù lao Tàu, nơi phân lưu thành 2 sông Cửa Tiểu, Cửa Đại là 77.400 m, đây cũng là ranh giới tự nhiên của Tiền Giang với 2 tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long ở phía Nam. Nơi rộng nhất 2.100 m tại đầu cù lao Tàu, nơi hẹp nhất chỉ 300 m cách vàm Rạch Trà Lọt thuộc xă Ḥa Khánh, huyện Cái Bè 600 m về hướng Tây. Chiều sâu sông thay đổi tùy theo đoạn: Đoạn từ đầu cù lao Tàu đến Vàm Kỳ Hôn sâu 9 m đến 11 m, đoạn từ Vàm Kỳ Hôn qua thành phố Mỹ Tho đến vàm Kinh Nguyễn Tấn Thành sâu 7 m đến 9 m, từ vàm Kinh Nguyễn Tấn Thành đến Cầu Mỹ Thuận độ sâu ḷng sông chính trung b́nh từ 12 m đến 15 m so với mặt đất tự nhiên – trong đoạn nầy khúc sông từ cầu Mỹ Thuận ngược về phía Tây có nơi sâu đến 27 m, địa h́nh ḷng sông thấp hẵn về phía Tiền Giang và độ dốc mái bờ tại khúc nầy rất bé.

Sông Tiền cùng 2 nhánh của nó có liên quan đến tỉnh Tiền Giang là Sông Cửa Tiểu, Sông Cửa Đại và hệ thống kinh rạch trong tỉnh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chế độ bán nhật triều không đều của Biển Đông. Trong 1 ngày có 2 lần nước lớn (triều cao) với một đỉnh thấp và một đỉnh cao hơn và 2 lần nước ṛng với một chân thấp và một chân cao hơn. Hàng tháng có 2 lần nước rong (kỳ triều cường) và 2 lần nước kém (kỳ triều kém). Tại Mỹ Tho, biên độ cực đại vào kỳ triều cường xấp xỉ 3,50 m và vào kỳ triều kém là 1,50 m; càng chảy sâu vào các nhánh kinh, rạch biên độ triều càng giảm.

Khi thủy triều lên sẽ tạo ḍng chảy ngược về phía thượng lưu. Nếu lượng nước từ thượng nguồn đổ về thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nước biển lấn sâu vào nội địa. Tại cầu Mỹ Thuận, vào mùa cạn (tháng 1 đến tháng 6 dl) lượng nước đổ về thấp nhất vào tháng 4 dl (1.300 m3/s – 1.500 m3/s) và cao nhất vào tháng 6 dl (xấp xỉ 5.500 m3/s). Như vậy mùa cạn, đặc biệt vào tháng 4 dl, là thời đoạn mà nước biển dễ dàng xâm nhập sâu về phía thượng nguồn. Thành phố Mỹ Tho, các huyện G̣ Công Đông, G̣ Công Tây, Chợ Gạo, Châu Thành và phần cực Đông của 2 huyện Cai Lậy, Tân Phước là vùng chịu ảnh hưởng mặn hàng năm từ sông Tiền và sông Vàm Cỏ (xem mục từ nầy). Độ mặn, thời gian nước bị nhiễm mặn trong năm tùy thuộc vào vị trí so với cửa sông. Nói chung từ cuối tháng 12 dl độ mặn nước sông tại khu vực gần cửa sông bắt đầu tăng lên, thời đoạn độ mặn ≥ 4 gNaCl/l trên Sông Cửa Tiểu tại Vàm Kinh (cách cửa sông 3 km) là gần 8 tháng (đầu tháng 1 đến hạ tuần tháng 8 dl), tại cửa Rạch Vàm Giồng (cách cửa sông 26,50 km) là 3 tháng (tháng 3, 4, 5 dl), tại Vàm Kỳ Hôn (cách cửa sông  42,50 km) là gần 1 tháng. Trên Sông Tiền tại Mỹ Tho (cách cửa sông 47,50 km) độ mặn ít khi vượt quá 4 gNaCl/l, tuy nhiên vào những năm lưu lượng thượng nguồn ít độ mặn tại đây vẫn vượt qua mức 4 gNaCl/l và kéo dài trong nhiều ngày như năm 1998 chẳng hạn, độ mặn lên đến 10,44 gNaCl/l đo được vào ngày 08/4, cao nhất tính từ năm 1936 đến năm 2005 và trong suốt tháng 4 năm đó độ mặn luôn lớn hơn 4 gNaCl/l. Hiện nay, sau gần ba thập niên thực hiện Chương tŕnh Ngọt Hóa G̣ Công, phần đất canh tác trên 35.000 ha từ Vàm Kỳ Hôn đến Biển Đông đă được ngăn mặn và cấp nước ngọt bằng hệ thống đê và các cống điều tiết dưới đê. Chương tŕnh nầy đă tạo điều kiện để tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cấp nước sinh hoạt, từ đó góp phần làm tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống của cư dân trong vùng.

Nếu lượng nước từ thượng nguồn đổ về quá nhiều sẽ gây ra ngập lụt. Vào mùa lũ (từ tháng 7 đến tháng 12 dl), lượng nước đổ vào Sông Tiền tại Mỹ Thuận từ 8.000 đến 9.500 m3/s (tháng 12 dl, thấp nhất) đến khoảng từ 19.000 đến 21.000 m3/s (tháng 10 dl, cao nhất). Những năm có lũ lớn, nước từ thượng nguồn đổ ra biển qua sông Tiền, sông Hậu và chảy tràn vào Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. Trong địa phận tỉnh Tiền Giang, nước từ Sông Tiền ở phía Nam và từ Đồng Tháp Mười ở phía Bắc chảy vào mạng lưới kinh rạch và dâng lên làm ngập gần 140.000 ha của các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, phần phía Tây Quốc lộ 1A của huyện Châu Thành và một phần xă Trung An của thành phố Mỹ Tho. Lũ lụt - ngoài những lợi ích như làm sạch đồng ruộng, mang phù sa bồi bổ đất đai... – đă làm hư hỏng nhà cửa, vườn, ruộng của dân và nhiều công tŕnh cơ sở hạ tầng. Trận lũ lớn năm 2000 đă làm thiệt mạng 47 người, thiệt hại hoa màu, tài sản công và tư gần 748 tỷ đồng (gần 53 triệu USD), chiếm 10,58% GDP của cả tỉnh trong năm đó. 

Trên 120km, sông Tiền chảy trên đất Tiền Giang, ngoài ḍng chính ra c̣n có một hệ thống phụ lưu phong phú như: Rạch Cái Thia và phụ lưu của nó; rạch Trà Lọt; rạch Cái Bè và phụ lưu của nó; rạch Ba Rài; rạch Trà Tân; rạch Gầm; rạch Bảo Định; rạch Cả Hôn – Cầu Ngang; rạch Vàm Giồng; Sáu Thoàn; rạch Giá, rạch Long Nông; rạch Gốc. Phần lớn các phụ lưu này đều ngắn nhưng khá sâu và rộng. Nó có nhiệm vụ dẫn nước tưới và tiêu cho nhiều vùng đất cổ bọc phía Bắc sông Mỹ Tho.

Sông Tiền đoạn chảy qua Tiền Giang đă tạo nên nhiều cù lao dài, hẹp và trù phú (Ngũ Hiệp, Tân Phong, Tân Thới, Tân Phú, Phú Thạnh, Phú Đông).

II - SÔNG VÀM CỎ

So với Sông Mekong, Sông Vàm Cỏ chỉ là sông nhỏ và có rất nhiều đoạn uốn khúc. Nước từ thượng nguồn đổ về theo 2 nhánh Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đến gần Cần Đước 2 nhánh nhập một rồi đổ ra Biển Đông qua cửa Soài Rạp.

Vàm Cỏ là con sông lớn thứ hai chảy qua địa phận Tiền Giang ở phía Bắc, chỉ chỉ có 39 km chiều dài chảy trên đất Tiền Giang trước khi đổ vào cửa Soài Rạp để ra biển. Tuy vậy, nó cùng với nhánh Vàm Cỏ Tây ảnh hưởng khá lớn đến các hoạt động kinh tế, văn hóa, xă hội của tỉnh nhà.

Sông không có lưu vực riêng, lượng ḍng chảy trên sông chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua, sông quanh co uốn khúc (hệ số nồn khúc 1,5), độ dốc đáy sông nhỏ (0,02%) làm cho việc tiêu thoát thủy gặp nhiều khó khăn. Hướng chảy cơ bản Tây Bắc – Đông Nam.

Phần lớn chiều dài sông Vàm Cỏ thuộc tỉnh Long An, riêng đoạn dài 39 km từ vàm sông Tra (một nhánh của sông Vàm Cỏ, vàm nầy tại xă B́nh Xuân, Huyện G̣ Công Đông, Tỉnh Tiền Giang) đến cửa Soài Rạp là một phần ranh giới tự nhiên giáp biển giữa 2 tỉnh Tiền Giang và Long An. Tại đoạn sông nầy nơi rộng nhất 3.100 m tại ngay sau chỗ hợp lưu với Sông Nhà Bè, nơi hẹp nhất 420 m gần vàm sông Tra. Lượng nước chảy qua sông vào mùa lũ tại Tân An trung b́nh từ 1.000 đến 1.200 m3/s, cao nhất khoảng 2.300 m3/s.

Sông Vàm Cỏ chỉ có ảnh hưởng đến 8% diện tích ở phần cực Bắc của tỉnh. So với sông Tiền, nước từ sông Vàm Cỏ kém hẵn về chất lượng. Trong mùa lũ, một phần lượng nước từ Sông Tiền chảy tràn vào Đồng Tháp Mười và thoát ra biển qua sông Vàm Cỏ Tây nhưng khả năng tháo lũ của sông nầy rất kém v́ có quá nhiều đoạn uốn khúc. Nước đổ về vào đầu và giữa mùa lũ thường là nước nhiễm phèn v́ chảy qua Đồng Tháp Mười. Vào mùa cạn, hầu như toàn bộ sông Vàm Cỏ hoàn toàn bị thủy triều bán nhật của Biển Đông chi phối, nước biển dễ dàng lấn sâu về phía thượng nguồn. Vào cùng một thời điểm và đồng một khoảng cách đến biển độ mặn nước sông Vàm Cỏ lớn gấp nhiều lần trên Sông Tiền. các cống Rạch Chanh, Bắc Đông...

Cũng như sông Tiền ở hai phía (tả, hữu) của sông Vàm Cỏ có rất nhiều chi lưu. Riêng địa phận Tiền Giang có: rạch Cái Tôm, rạch Láng C̣, rạch Chanh, rạch Cần Đối, rạch Bảo Định, rạch G̣ Công, rạch Vàm Tháp.

  • Rạch Ba Rài

Chạy theo hướng Bắc - Nam, từ Sông Cũ - Kinh 12 (Bắc) đến Sông Tiền (Nam). Rạch nằm hoàn toàn trong huyện Cai Lậy với chiều dài 22.200 m, cắt ngang qua Quốc lộ 1A tại Cầu Cai Lậy. Phần Rạch phía Nam Quốc lộ 1A có nhiều đoạn uốn khúc, ngay trước khi ra đến Sông Tiền có một khúc ngoặc h́nh Ω. Nơi rộng nhất130 m tại chỗ giáp sông Tiền, bề rộng trung b́nh 40 m, càng về phía Bắc rạch hẹp dần, chỗ hẹp nhất 20 m tại vị trí giáp rạch Bà Bèo (cũng gọi là Sông Cũ, Bàu Bèo). Độ sâu trung b́nh 7 m- 8 m so với mặt đất tự nhiên.

  • Kinh Bảo Định (Tên cũ: Bảo Định Hà, Arroyo de la Poste)

Trước kia, về phía nam chỉ có rạch Mỹ Tho chảy từ Hóc Đùn ra sông Tiền. Về phía bắc có rạch Vũng Gù chảy từ rạch Cai Lộc ra sông Vàm Cỏ. Khoảng giữa là đầm lầy, rừng bụi. Vào năm 1705, quân Xiêm tiến tới Rạch Gầm. Chúa Nguyễn cử Thống suất Nguyễn Cửu Vân đem quân ngăn chặn. Nhằm thuận đường tiến quân, Nguyễn Cửu Vân cho đào một con kinh nối liền ngọn rạch Mỹ Tho và ngọn Vũng Gù. Do đào vội, kinh Vũng Gù không được thẳng, khoảng sau một thế kỷ nhiều chỗ bị lấp cạn, giao thông bất tiện. Sau đó Trấn thủ Định Tường Nguyễn Văn Phong đă huy động 9 ngàn dân phu cải tạo lại kinh Vũng Gù, dài 14 dặm, ngang 7 trượng, sâu 9 thước. Công tŕnh khởi công từ tháng giêng đến tháng tư năm 1819 (Kỷ Măo) th́ hoàn thành.

Trước khi đào kinh Chợ Gạo, kinh Bảo Định là thuỷ lộ quan trọng để vận chuyển hàng hóa, văn thư… từ đồng bằng Sông Cửu Long đi Sài G̣n. Năm 1974, cống Tân An đă được xây tại đầu phía Bắc của rạch (gần thị xă Tân An) nhằm ngăn nước mặn từ sông Vàm Cỏ Tây xâm nhập vào ruộng, vườn. Năm 2004, cống Bảo Định với chức năng tương tự cũng đă được xây tại gần vàm phía Nam. Vào mùa nước mặn hai cống đóng cửa, vai tṛ giao thông thủy của rạch hiện không như trước đây.

Kinh Bảo Định đă được vét nhiều lần, lần gần đây nhất là vào năm 1979. Chiều dài kinh qua địa phận Tiền Giang là 19.000 m. Bề sâu rạch so với mặt đất tự nhiên thay đổi tùy theo đoạn, đoạn từ cửa rạch chỗ thông với Sông Tiền đến cầu Triển Lăm sâu 6 m – 9 m, đoạn từ vàm rạch Đạo Ngạn đến chùa Phổ Đức sâu 4 m – 5 m, từ vàm rạch Đạo Ngạn đến chợ Bến Tranh sâu 5 m – 6 m, cạn nhất là đoạn chảy qua 2 xă Phú Kiết và Mỹ Tịnh An của huyện Chợ Gạo chỉ sâu 2 m – 3 m v́ đây là đoạn giáp nước.

  • Rạch Cái Cối

Rạch Cái Cối nằm ở phía Nam Quốc lộ 1A-Quốc lộ 30 trong địa phận  huyện Cái Bè, chạy từ Tây sang Đông qua các xă chuyên canh cây ăn trái là Tân Thanh, An Hữu, An Thái Đông, Mỹ Lương, Mỹ Đức Đông và cắt ngang Quốc lộ 1A tại cầu An Hữu. Đầu phía Tây thông với rạch Cái Nhỏ, đầu phía Đông thông trực tiếp ra Sông Tiền. Đoạn rạch qua xă Tân Thanh c̣n có tên khác là Rạch Dâu. Rạch có nhiều nhánh khá lớn chảy về phía Bắc và cắt ngang qua Quốc lộ 30 và Quốc lộ 1A như rạch Cái Lân, rạch Ruộng, rạch Đào, rạch Giồng, rạch Bà Tứ, rạch Chanh, rạch Cổ C̣. Chiều dài rạch là 20.900 m, nơi rộng nhất 400 m tại đầu phía Đông, nơi hẹp nhất 37 m tại đoạn qua xă Tân Thanh và cách cửa rạch Đào 775 m về phía Tây. Chiều sâu trung b́nh 6 m – 7 m so với mặt đất tự nhiên.

  • Rạch Cầu Ngang

Nối từ Kinh Xuân Ḥa đến rạch Vàm Giồng (xem hai mục từ nầy), rạch dài 9.900 m, bề rộng mặt trung b́nh 15 m đến 17 m, sâu 3 m – 4 m so với mặt đất tự nhiên. Phần lớn chiều dài rạch thuộc huyện Chợ Gạo và là ranh giới tự nhiên giữa 2 xă B́nh Ninh và An Thạnh Thủy. Rạch Cầu Ngang là một đoạn trong trục dẫn nước chính cấp cho vùng ngọt hóa G̣ Công, đă được vét 2 lần vào năm 1985 và 1992.

  • Rạch G̣ Cát - Rạch Hóc Lựu và Rạch Tràm

Ba rạch nầy nối liền nhau, chạy theo hướng Tây - Đông từ chỗ hợp lưu với rạch Bảo Định (Tây) tại vị trí cách cầu Hùng Vương 340 m về phía Đông thuộc Thành phố Mỹ Tho đến chỗ giáp với Sông Tra - Kinh Chợ Gạo (Đông) tại Xă Đồng Sơn, Huyện G̣ Công Tây . Tổng chiều dài của 3 rạch là 27.100 m, trong đó chiều dài của rạch G̣ Cát, rạch Hóc Lựu, rạch Tràm lần lượt là 5.400 m, 11.800 m, 9.900 m. Bề rộng trung b́nh 17 m. Năm 1985 rạch G̣ Cát và rạch Hóc Lựu đă được vét sâu 4 m so với mặt đất tự nhiên, tuy nhiên do vét đă lâu và v́ rạch nhận nước từ sông Tiền qua rạch Bảo Định và từ sông Vàm Cỏ qua sông Tra nên khúc giữa là giáp nước, mau bồi lắng, hiện nay độ sâu rạch chỉ 2 – 3 m so với mặt đất tự nhiên. Đầu rạch phía Tây gần chỗ hợp lưu với rạch Bảo Định đă xây cống G̣ Cát vào năm 2000.

  • Rạch G̣ Công

Rạch rộng nhất trong các kinh, rạch ở 3 huyện phía Đông của tỉnh, chạy từ rạch Vàm Giồng ở phía Nam Thị xă G̣ Công, cắt qua Quốc lộ 50 tại Cầu Long Chánh và Quốc lộ 50 mới (tuyến tránh thị xă G̣ Công) tại Cầu G̣ Công (mới xây xong năm 2004), sau đó nối với Sông Vàm Cỏ ở phía Bắc. Chiều dài 16.900 m, nơi rộng nhất 190 m tại cửa rạch, nơi hẹp nhất 40 m gần chỗ giáp với rạch Vàm Giồng, độ sâu trung b́nh 7 m – 8 m so với mặt đất tự nhiên. Rạch G̣ Công có nhiều nhánh khá lớn như rạch Sơn Quy, rạch Công Lương, rạch Giá, rạch Băng, rạch Rầm Vé, rạch G̣ Gừa. Do thông lưu với Sông Vàm Cỏ nên vào mùa cạn nước trong rạch bị nhiễm mặn với nồng độ cao, từ tháng 1 dl đến giữa tháng 7 dl nước luôn có độ mặn lớn hơn 4 gNaCl/l. Năm 1988 đă xây cống cùng tên nhằm ngăn nước mặn xâm nhập sâu vào phía đồng. Hai năm 1996, 1997 đă đắp đê ngăn mặn chạy dọc theo 2 bờ từ Cống G̣ Công đến cửa rạch, đồng thời cũng đă xây hàng loạt cống ngăn mặn tại đầu các nhánh của rạch nầy.

  • Rạch Trà Tân - Rạch Bang Lợi - Rạch Gầm (Sầm Giang)

Ba rạch nầy nối liền nhau và có h́nh dạng như chữ U ngược, hai đầu  thông với Sông Tiền: đầu phía Tây tại xă Long Trung sau đó đi qua các xă Long Tiên, Mỹ Long (huyện Cai Lậy) và Bàn Long, Vĩnh Kim, Kim Sơn (đầu phía Đông) thuộc huyện Châu Thành. Phần rạch phía Tây tên là Trà Tân, đoạn giữa được gọi Bang Lợi và đoạn phía Đông mang tên rạch Gầm. Tổng chiều dài cả 3 rạch là 27.300 m, bề sâu 7 m – 8 m tại đoạn gần vàm, 4 m – 5 m ở đoạn giữa. Bề rộng tại cửa rạch Gầm là 80 m, cửa rạch Trà Tân là 50 m, chỗ rộng nhất lên đến 100 m tại vị trí cách cầu Ô Thước 950 m về phía Tây thuộc xă Vinh Kim, đoạn hẹp nhất chỉ 25 m thuộc xă Long Tiên. Ba rạch có nhiều nhánh khá lớn chạy theo hướng Nam - Bắc như rạch Ông Bảo, Kinh Ông Mười, rạch Mỹ Long...

  • Rạch Vàm Giồng (Tên khác: rạch Vàm Rồng, rạch Rồng)

Chạy từ Sông Cửa Tiểu theo hướng Nam-Bắc rồi rẽ về phía Đông qua Thị trấn Vĩnh B́nh của Huyện G̣ Công Tây và nối với rạch G̣ Công tại vị trí gần thị xă G̣ Công. Chiều dài 18.000 m, bề rộng từ 15 m tại chỗ tiếp giáp rạch G̣ Công đến 25 m tại khúc gần vàm, độ sâu trung b́nh 4 m so với mặt đất tự nhiên. Phần lớn chiều dài rạch thuộc huyện G̣ Công Tây. Rạch Vàm Giồng cũng là một đoạn trong trục dẫn nước chính cấp cho vùng ngọt hóa G̣ Công, đă được vét vào năm 1999. Tại cửa rạch đă xây một cống thủy lợi cùng tên vào năm 1991. Trước khi có cống, từ đầu tháng 3 dl đến cuối tháng 5 dl nước mặn với nồng độ lớn hơn 4 gNaCl/l từ Sông Cửa Tiểu chảy vào rạch và ảnh hưởng đến trên 9.000 ha diện tích thuộc lưu vực rạch nầy.

1.         Kinh 14

Cũng là một đoạn trong trục dẫn nước chính của vùng ngọt hóa G̣ Công, kinh nối liền từ rạch Vàm Giồng, chỗ gần vàm, chạy theo hướng Đông - Đông - Bắc ngang qua Huyện G̣ Công Tây, Xă Long Hoà của Thị Xă G̣ Công và thông với Kinh Salisetti. Kinh dài 16.500 m, rộng 27 m, sâu 4,50 m.

2.         Kinh 28

Kinh 28 là đoạn cuối gần Sông Tiền của một hệ thống gồm nhiều đoạn kinh đào khá thẳng nối từ kinh Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp rồi chạy theo hướng Đông – Nam cắt ngang các kinh Đồng Tiến, An Phong - Mỹ Hoà, Nguyễn Văn Tiếp A, Nguyễn Văn Tiếp B và ra sông Tiền qua ngỏ rạch Thông Lưu - rạch Cái Bè. Kinh 28 nằm trong địa phận Huyện Cái Bè, thông với kinh Nguyễn Văn Tiếp B tại Ngả Sáu Mỹ Trung, chiều dài 14.000 m, bề rộng trung b́nh 60 m, bề sâu 9 m – 13 m so với mặt đất tự nhiên. Với vị thế như vậy, kinh 28 là một đoạn trong tuyến đường thủy quan trọng nối từ trung tâm Đồng Tháp Mười ra Sông Tiền. Vào những năm lũ lớn, kinh nầy là một trong những trục thoát lũ chính với lưu tốc ḍng chảy thường trên 1,30 m/s, làm sạt lở rất nhiều chỗ trên suốt chiều dài kinh.

3.         Kinh Bắc Đông

Kinh nầy là một đoạn trong 3 kinh liền nhau đă được đào từ lâu, chạy từ Tây sang Đông, nối liền Sông Tiền và Sông Vàm Cỏ Tây là Kinh Đồng Tiến – Kinh Lagrange – Kinh Bắc Đông. Trước đây đoạn Kinh Bắc Đông chỉ dài 14.000 m tính từ chỗ nối đầu với Kinh Lagrange đến Sông Vàm Cỏ Tây, năm 1987 đă đào một con kinh mới dài 14.500 m chạy thẳng từ Kinh 12 ở phía Tây đến chỗ nối giữa kinh Lagrange và Kinh Bắc Đông, con kinh mới nầy cũng được gọi là Kinh Bắc Đông. Như vậy, hiện nay tổng chiều dài của Kinh Bắc Đông là 28.500 m, trong đó phần thuộc địa phận Tiền Giang là 20.300 m và cũng là một phần ranh giới giữa Tỉnh Tiền Giang và Tỉnh Long An, chiều sâu trung b́nh 4 m, bề rộng 20 – 22 m. Năm 1993 tại đầu phía Đông trong địa phận Tỉnh Long An, gần Sông Vàm Cỏ Tây, đă xây Cống Bắc Đôngvới nhiệm vụ chính là ngăn nước mặn chảy từ sông vào phía đồng.

4.         Kinh Chợ Gạo (Tên cũ: Canal Dupérré)

Nối thẳng từ rạch Kỳ Hôn đến Sông Tra, một nhánh ngắn của Sông Vàm Cỏ. Kinh được đào lần đầu bằng phương tiện thủ công vào năm 1875 với chiều sâu 3 m, bề rộng 20 m, cuối năm 1876 khánh thành. Năm 1913 kinh được vét sâu và mở rộng bằng xáng với kích thước như hiện nay: sâu 5 - 7 m, rộng trung b́nh 100 m. Kinh Chợ Gạo dài 11.800 m, phần lớn chiều dài thuộc huyện Chợ Gạo, chỉ 2.000 m đầu phía Bắc chảy qua Xă Đồng Sơn thuộc Huyện G̣ Công Tây. Kinh đă được vét lại nhiều lần và hiện là thủy lộ quan trọng nối Sông Tiền và Sông Vàm Cỏ với số lượng tàu thuyền qua lại rất cao. Hiện hai bờ kinh đă bị sạt lở tại rất nhiều đoạn.

5.         Kinh N8 - Rạch Lớn

Đây là kinh cấp 1, nhánh của Kinh 14, chạy từ kinh nầy lên phía Bắc nối với rạch G̣ Công và nằm gọn trong địa phận Huyện G̣ Công Tây. Kinh gồm 3 đoạn liền nhau: Đoạn đầu là rạch Lớn từ Kinh 14 chạy về phía Bắc thông với rạch Vàm Giồng, đoạn giữa từ rạch Vàm Giồng nối với Kinh Tham Thu tại vị trí đầu Kinh N8 và đoạn cuối là Kinh N8. Hai đoạn đầu và cuối là kinh có sẵn được vét sâu và mở rộng vào năm 1991 và 1993, đoạn giữa được đào mới năm 1991. Cả ba hợp thành một tuyến dẫn nước từ Kinh 14 ở phía Nam cấp cho phần đất phía Bắc Quốc lộ 50 từ Lộ Đồng Sơn đến rạch G̣ Công. Kinh cắt ngang Quốc lộ 50 tại Cống Thạnh Trị, tại đầu phía Bắc đă xây cống ngăn mặn rạch Sâu vào năm 1996. Kinh dài tổng cộng 13.400 m; đoạn rạch Lớn rộng 12 m, sâu 3 m; đoạn N8 rộng 9 m, sâu 3 m.

6.         Kinh Nguyễn Văn Tiếp (Tên cũ: Kinh Tổng đốc Lộc)

Kinh Nguyễn Văn Tiếp là kinh dài nhất tỉnh Tiền Giang, chảy qua 4 huyện là Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước và Châu Thành. Tổng chiều dài của kinh thuộc địa phận Tiền Giang là 65.900 m, trong đó đoạn kinh từ rạch Ruộng chạy lên phía Đông - Bắc được gọi là Nguyễn Văn Tiếp B dài 20.400 m,  đoạn rẻ về phía Đông nối với Sông Vàm Cỏ Tây gọi là Nguyễn Văn Tiếp A dài 45.500 m. Kinh Nguyễn Văn Tiếp B cũng là một phần ranh giới giữa Tỉnh Tiền Giang và Tỉnh Đồng Tháp. Bề rộng kinh Nguyễn Văn Tiếp là 40 m, bề sâu trung b́nh 4 m. Kinh đă được vét lại nhiều lần, gần đây nhất vào các năm 2000 để lấy đất đắp bờ bao ngăn lũ. Năm 1993 tại đầu vàm phía Đông trong địa phận Tỉnh Long An, gần Sông Vàm Cỏ Tây, đă xây Cống rạch Chanh với mục đích chính là ngăn nước mặn xâm nhập từ sông nầy.

7.         Kinh Nguyễn Tấn Thành (Tên khác: Kinh Xáng)

Kinh nầy nối từ Kinh Nguyễn Văn Tiếp A, tại trung tâm Thị trấn Mỹ Phước của Huyện Tân Phước xuống phía Nam, cắt qua Quốc lộ 1A tại Cầu Kinh Xáng. Trước khi thông ra Sông Tiền, kinh cắt Đường tỉnh 864 tại cầu cũng có tên là Cầu Kinh Xáng. Kinh dài 19.300 m, rộng 40 m, bề rộng tại vàm kinh lên đến 125 m, chiều sâu 5 m – 8 m so với mặt đất tự nhiên. Kinh nầy ngoài chức năng giao thông thuỷ c̣n là một trục thoát lũ quan trọng của tỉnh. Kinh đă được vét nhiều lần, lần gần đây nhất vào cuối năm 2000 để lấy đất đắp bờ bao ngăn lũ.

8.         Kinh Tham Thu (Tên khác: Kinh Lộ 24)  

Kinh dài 19.000 m, ở phía Bắc và chạy theo hướng Tây - Đông song song với Tỉnh Lộ 24 (nay là Quốc lộ 50), được đào vào đầu thập niên 1970 để dẫn nước được bơm từ trạm bơm Tham Thu (phía Tây; nguồn nước lấy từ Kinh Cả Hôn) đến ao trữ của Nhà máy nước Thị xă G̣ Công (phía Đông, cũng gọi là ao Tham Thu), đồng thời tưới cho một phần diện tích canh tác dọc kinh. Sau đó, vào năm 1976 – 1977 trạm bơm B́nh Phan với lưu lượng thiết kế lớn hơn đă được xây dựng kề bên trạm Tham Thu nhằm mở rộng diện tích được tưới và tăng lượng nước cấp cho thị xă G̣ Công, kinh  Tham Thu cũng đă được đào rộng ra với bề rộng đáy là 13 m, bề rộng mặt trung b́nh 22 m. Lúc đầu đáy kinh chỉ sâu trung b́nh 1,50 m dưới mặt đất tự nhiên, 2 bờ kinh được đắp cao xấp xỉ 2m trên mặt đất tự nhiên để khi bơm có thể nâng mực nước trong kinh cao hơn mặt ruộng từ 1m đến 1,50m, đủ sức tưới tự chảy cho các ruộng xa qua các kinh nhánh và cống điều tiết đầu kinh mà không cần sử dụng thêm bơm nhỏ. Sau nầy kinh từng bước được vét sâu thành kinh ch́m: Các năm 1993, 2004 vét đoạn từ cống Đồng Sơn (dưới lộ Đồng Sơn, huyện G̣ Công Tây) đến ao Tham Thu, năm 1999 vét đoạn từ trạm bơm đến Lộ Đồng Sơn, cả hai đều vét sâu đến 3 m. Năm 2001 xây cống điều tiết B́nh Phan tại vị trí gần trạm bơm, từ đây trạm bơm ngưng hoạt động, nước vào Kinh Tham Thu qua cống nầy, dân tự sử dụng bơm nhỏ để đưa nước vào ruộng. 

9.         Kinh Salisetti – Kinh Champeaux

Kinh Salisetti được đào năm 1869 và kinh Champeaux được đào năm 1870. Hai kinh nối liền nhau và là một đoạn trong trục dẫn nước chính của vùng ngọt hóa G̣ Công. Tuyến kinh chạy song song với đường tỉnh 862, nối từ rạch Vàm Giồng, đoạn Nam thị xă G̣ Công, đến xă Tân Thành của huyện G̣ Công Đông, chỗ gần đê biển. Hai kinh dài 13.000 m, rộng trung b́nh 18 m, sâu 3 m và đă được vét nhiều lần, gần đây nhất vào năm 1999 đă vét đoạn Champeaux từ Tân Ḥa đến Tân Thành.

10.      Kinh Trần Văn Dơng

Kinh nầy là đoạn cuối của trục dẫn nước chính cho vùng ngọt hóa G̣ Công, nối từ Kinh Salisetti chạy theo hướng Đông - Đông - Bắc cắt ngang qua đường huyện 13 tại cầu Vạn Thắng rồi rẻ thẳng về hướng Đông thông ra Biển Đông sau khi qua cống rạch Bùn. Kinh dài 10.500 m, rộng 25 m, sâu 4 m so với mặt đất tự nhiên. Kinh đă được vét lần gần đây nhất vào năm 1987.

11.      Kinh Xóm Gồng

Đây là kinh cấp 1, nhánh của kinh chính Trần Văn Dơng, chạy từ kinh nầy về phía Bắc và thông với Sông Vàm Cỏ. Tại đầu phía Bắc đă xây cống cùng tên vào năm 1991-1992. Kinh được h́nh thành vào năm 1991-1992 bằng việc đào nối các đoạn kinh đă có sẵn để cấp nước cho khu vực thường bị hạn ở cuối nguồn của vùng ngọt hoá G̣ Công như các xă Tân Phước, Gia Thuận, Vàm Láng, Kiểng Phước, Tân Tây, Tân Đông của huyện G̣ Công Đông. Kinh dài 12.800 m, sâu 3 m, rộng 13 m – 15 m. Kinh đă được vét lại năm 1998.

12.      Kinh Xuân Hoà

Kinh nầy là đoạn đầu của trục dẫn nước chính gồm nhiều đoạn của vùng ngọt hóa G̣ Công. Kinh dài 8.650 m nối từ sông Tiền đến rạch Cầu Ngang (xem mục từ nầy), qua 2 xă Xuân Đông và Hoà Định của huyện Chợ Gạo. Điểm đầu kinh nối với sông Tiền cách Cửa Tiểu theo đường thủy là 42,5 km. Kinh đă được đào xong giai đoạn 1 vào năm 1982 với bề rộng 24 m, sâu 4 m. Theo dự án, kinh phải đủ khả năng tải nước tưới cho trên 37.000 ha, v́ vậy trong tương lai kinh sẽ được mở rộng hơn. Tại đầu kinh phía Sông Tiền đă xây một cống lớn là cống Xuân Hoà, đây là công tŕnh đầu mối của cả vùng ngọt hóa G̣ Công.  

  • Ao Trường Đua

Ao có tên nầy v́ khi xưa nó được bao bọc bởi một đường đất rộng 5 m chạy theo tuyến h́nh tṛn chu vi 3.000 m do người Pháp cho đắp để đua ngựa. Về sau trường đua bị dẹp bỏ, ao dùng trữ nước mưa phục vụ nhu cầu sinh hoạt của dân trong thị xă G̣ Công. Trước khi có nhà máy nước G̣ Công và kinh Tham Thu, vai tṛ của Ao Trường Đua rất quan trọng v́ khi ấy nước trong kinh, rạch quanh thị xă G̣ Công bị nhiễm mặn phần lớn thời gian trong năm. Ao h́nh vuông, mỗi cạnh dài 100 m, hiện nằm trong phạm vi thị xă, kề bên đường tỉnh 862 đi Tân Ḥa, Tân Thành. Năm 1999 bờ ao đă được lát đá hộc, quanh ao xây lan can.

  • Giếng nước Mỹ Tho

Giếng nước Mỹ Tho là một hệ thống gồm 2 giếng được đào với mục đích trữ nước cấp cho Thành phố Mỹ Tho:

- Giếng nhỏ nằm kề sông Tiền giới hạn bởi các đường xe lửa (Bắc, nay là Lư Thường Kiệt), Doudard de Lagrec (Đông, nay là Yersin), đường tỉnh số 26 (Nam, nay là Lê Thị Hồng Gấm) và đường Tết Mậu Thân hiện nay (Tây). Giếng nhỏ dài trung b́nh 190 m, rộng 85 m.

- Giếng lớn ở ngay phía Bắc giếng nhỏ, kéo dài từ đường Lư Thường Kiệt (Nam) đến đường Ấp Bắc hiện nay (Bắc), phía Tây và Đông vẫn là đường Tết Mậu Thân và Yersin. Chiều dài giếng lớn là 800 m, bề rộng như giếng nhỏ. 

-Giếng nhỏ thông với Sông Tiền qua một cống ngầm dưới đường Lê Thị Hồng Gấm và 2 giếng thông nhau cũng bằng một cống ngầm dưới đường Lư Thường Kiệt. Trước đây nước từ sông được lấy trữ trong giếng nhỏ để lắng bớt phù sa sau đó cho vào giếng lớn và cấp cho nhà máy nước. Hiện nay nhà máy đă không c̣n lấy nước từ giếng nữa, tuy vậy nước ngoài sông vẫn được cho vào, chủ yếu để tạo cảnh quan đô thị.

Đến năm 1988 bờ giếng lớn phía đường Ấp Bắc và đường Lư Thường Kiệt bị xói lở dần ảnh hưởng đến sự ổn định của đường, v́ vậy hai đầu giếng lớn đă được lấp cạn một đoạn khá dài để vừa gia cố đường vừa h́nh thành công viên. Năm 1998-1999 mái bờ của 2 giếng được lát đá hộc, quanh giếng xây lan can như hiện nay.  

  • Ao sinh thái

Ao nằm ở trung tâm của một quần thể có diện tích ban đầu khoảng 100 ha với mặt nước và các giống loài cây, con đặc trưng cho Đồng Tháp Mười. Ao được đào vào năm 1999 tại Xă Thạnh Tân thuộc Huyện Tân Phước theo một dự án bảo tồn sinh thái của tỉnh. Ao có h́nh dạng gần như ellip, trục lớn dài  50 m, trục nhỏ 30 m, sâu 3,50 m và nối với kinh vành đai rộng 50 m qua 4 kinh nhỏ xếp thành h́nh chữ thập.

  • Ao Vàm Láng

Ao được đào năm 1993 ngay phía Bắc đường tỉnh 871, cách chợ xă Vàm Láng huyện G̣ Công Đông 1.400 m về phía Tây, kinh phí do Cộng đồng Châu Âu tài trợ. Ao dài 200 m, rộng 100 m, sâu 3 m nhằm trữ nước mưa và nước ngọt lấy từ kinh Xóm Gồng cấp cho khu vực đông dân ở trung tâm xă. 

 

Nguồn: www.tiengiang.gov.vn