BẾNTRE VÀ ĐỒNG BẰNG CỬU LONG

Nguyễn Văn Châu

 

 

Ngược ḍng thời gian,trở lại buổi sơ khai của cuộc Nam tiến của Ông Cha chúng ta:

Họ là những người không thích luồn cúi,nịnh hót, bợ đỡ;yêu chuộng tự do phóng khoáng,đi khai phá, chinh phục rừng sâu,nước độc,đầm lầy;chiến đấu với cọp, beo,cá sấu,rắn độc,muỗi mồng, đỉa vắt.Họ biến hoang vu thành làng mạc,phố xá.Tất cả đặc tính và h́nh ảnh trên đă được Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy diễn tả khá rỏ ràng:

Họ là những kẻ tự muôn ngh́n thuở trước

Đă phá rừng,xẻ núi,lấp đồng sâu

Và làm cho những đất cát hoang vu

Biến thành một giải san hà gấm vóc.

Họ là những kẻ không nài đường hiểm hóc,

Không ngại ǵ hăng hái vượt trùng sơn

Để âm thầm chuẩn bị giũa cô đơn

Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng.

Trong cái giải giang sơn lớn rộng đó,mỗi địa phương,do thiên nhiên và con người tác động , tạo nên những nét đặc thù.Do đó chúng ta có SàiG̣n, Huế, HàNội,Đà Nẳng,Nha Trang Đà Lạt,Biên Ḥa, Tây Ninh, Gia Định, ,MỹTho, BếnTre,VĩnhLong, CầnThơ, Sóc Trăng,Bặc Liêu,Rạch Giá, Càmau v.v.

Một vài đoạn văn sau đây,chúng ta cố gắng t́m coi đâu là những nét đặc thù của BếnTre,những cái nào là  chung với Đồng Bằng Cửu Long?

·        Địa lư thiên nhiên của BếnTre

BếnTre là một tỉnh nhỏ thuộc Đồng Bằng CửuLong,được h́nh thành bởi 3 cù lao: Cù lao Minh, Cù Lao bảo và Cù Lao An Hóa, diện tích 2,247 cây số vuông.

Trung tâm tỉnh là làng An Hội,thuộc quận châu thành Trúc Giang, cách SàiG̣n 87 KM về hướng Bắc.Tiếp giáp với Bến Tre là Mỹ Tho và G̣ Công về hướng Bắc,hướng Tây là Vĩnh Long, Nam là TràVinh, cả 3 cù lao đều giáp với biển Đông. Do sự tiếp giáp với Biển Đông qua 4 cửa sông lớn của Cửu Long  Giang : Cửa Đại, cửa Balai, Cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên, nên Bếntre , mỗi ngày 24 giơ,ø có 2 lần nước lớn và 2 lần nước ṛng.Và cũng do đó, đất đai BếnTre được chia thành 3 vùng tự nhiên

- Vùng nước ngọt quanh năm ở miệt trên chiếm 37% diện tích

- Vùng nước lợ ( bị nhiễm mặn và phèn ) ở giũa, chiếm 27% diện tích

- Vùng nước mặn quanh năm ( giáp biển) chiếm 36% diện tích.

* Kinh, Rạch, Chợ : Bếntre có một hệ thống kinh rạch đương nhau như màn nhện nối liền 4 sông lớn bao bọc 3 cù lao:Sông  Tiền,Ba lai, Hàm Luông và Cổ Chiên.Hầu hết các chợ được thiết lập tại bếnTre là chợ ven bờ kinh rạch hay tại vàm.(trên bến dưới thuyền) BếnTre với  118 xă, có 51 chợ.Những rạch lớn của Bếntre gồm: Rạch BếnTre,chảy từ Hàm Luông  qua Chợ Châu Thành BếnTre và tận cùng là  quận Giồng Trôm,rạch Cả Nhỏ,rạch Quới Sơn,rạch Lách,rạch CáiMơn,rạch Hàm Long ,rạch Giồng Sao,Rạch Giồng Trôm,rạch Chợ Lách,rạch Cái Cấm,rạch Mỏ Cày,rạch Cái Quao,rạch Cầu Mống,rạch Giồng Luông, rạch Băng Cung,rạch Khâu Băng. BếnTre cũng có nhiều kinh nhưng không dài lắm;những kinh quan trọng gồm: Kinh Xáng, cũng c̣n gọi là kinh Chợ Lách dài 7,5 KM nối sông Cổ Chiên và sông Hàm Luông. Đây là con đường lúa gạo của miền Nam.

Kinh Chẹt Sậy dài 5. Km nối rạch BếnTre với sông Ba lai rồi nối liền với kinh Giao Ḥa dài 9 KM nối sông Ba lai với sông Cửa Đại. Kinh Chẹt Sậy nối liền kinh Giao Ḥa  là con đường lúa gạo của BếnTre và TràVinh đi Sàig̣n.

* Đường bộ: BếnTre có qua nhiều sông rạch và kinh đào nên đường bộ không nhiều . Việc xây đấp rất tốn kém,phải xây rất nhiều cầu,nhiều bến bắc;đá, sắt, xi măng phải chở bằng ghe tàu từ miệt trên. Đường liên tỉnh MỹTho, BếnTre, TràVinh dài 54 KM, qua 3 bến bắc : Rạch Miễu, Hàm Luông và Cổ Chiên,đường từ châu thành BếnTre đi Giồng Trôm, BaTri dài 50 KM và đường đi tư ø quận Chợ Lách đầu cù lao Minh  qua Mỏ Cày đến biển Thạnh Phú dài 70 KM.

Tổng cộng, BếnTre có khoảng 135 KM đường lộ đất nối liền các quận lỵ và xă ấp.

* Sông nước BếnTre: danh từ nầy áp dụng cho Bến Tre là đúng nhứt.Toàn cỏi Việt Nam từ Nam Quan chí Cà Mau, duy nhứt  tỉnh BếnTre là xứ cù lao được bao bọc bởi Sông Tiền , sông Cổ Chiên và biển Đông;hiền nhân quân tử nào muốn đến thăm em gái xứ dừa đều phải qua  bắc tại Rạch Miểu, Cổ Chiên hay  Chợ Lách .Chừng nào mới có đủ tiền để xây cầu vượt Sông Tiền hay sông Cổ Chiên để vào xứ dừa?

·        Quá tŕnh h́nh thành tỉnh BếnTre

Năm 1780,Chúa Nguyễn Ánh chia toàn cơi đất phương Nam-lúc đó gọi là Gia Định-làm 4 doanh trấn:Phiên trấn,Biên trấn,Định trấn và Vĩnh trấn.Vùng đất BếnTre lúc gồm 2 cù lao : cù lao Minh, cù lao Bảo và thuộc Vĩnh trấn. Năm 1805, Vua Gia Long chia đất Gia Định lại thành 6 trấn:Biên Ḥa,Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Năm 1834 Vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh,tên Nam Kỳ lục tỉnh khai sanh từ đó và vùng đất BếnTre vẩn thuộc Vĩnh Long.

Năm  1867, sau khi chiếm xong đất Nam Kỳ, Pháp lập chế độ Hành Chánh thuộc địa, chia đất Nam Kỳ làm 25 Sở Tham Biện( Inspections);cù lao An Hóa thuộc  Sở Tham Biện MỹTho . Sở Tham Biện Mỏ Cày ( cù lao Minh ) Sở Tham Biện BếnTre ( cù lao Bảo).Năm 1871,do Quyết Định của Thống Đốc Nam Kỳ: Hai cù lao Minh và Bảo nhập lại với tên chung là Sở Tham Biện BếnTre.

Nghị Định của Toàn Quyền Đông Dương Paul Doumer kư ngày 20/12/1899, thay danh từ Sở Tham Biện (Inspection) bằng danh từ Tỉnh ( Province) và chia đất Nam Kỳ làm 20  tỉnh: Bà Rịa, Biên Ḥa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, G̣ Công, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên, Cần Thơ,Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Gía, Hà Tiên và Thành Phố Sài G̣n.

Ngày 1/1/1900,Thống Đốc Nam Kỳ, chiếu Nghị Định trên, kư Quyết Định thành lập tỉnh BếnTre gồm cù lao Minh (10 tổng)và cù lao Bảo (11) tổng ;tất cả có 178 làng.Đứng đầu là viên Tỉnh Trưởng, trung tâm hành chánh  tỉnh đặt tại làng An Hội thuộc tổng Bảo Hựu nằm bên bờ rạch Bến Tre,dân số toàn tỉnh vào khoảng 220,000 người.

Cù lao An Hóa thuộc Mỹ Tho.

Cù Lao Minh gồm các tổng: Minh Đạo, Minh Đạt, Minh Hóa, Minh Huệ, Minh Lư, Minh Phú, Minh Quới, Minh Thiện. Minh Thuận và Minh Trị              

Cù Lao Bảo gồm các tổng:  Bảo An, Bảo Đức, Bảo Ḥa, Bảo Hựu, Bảo Khánh, Bảo Lộc, Bảo Ngải, Bảo Phước, Bảo Thành, Bảo Thuận và Bảo Trị.             

Năm 1945, tỉnh BếnTre đổi tên  là tỉnh Đồ Chiểu

Năm 1946-1954, tỉnh mang tên Bến Tre

Năm 1954-1975, tỉnh đổi tên : Kiến Ḥa gồm cả 3 cù lao: An Hóa, Bảo và Minh, có 118 Xă thuộc 10 quận: Trúc Giang, Giồng Trôm, Ba Tri, Hàm Long, Đôn Nhơn, Mỏ Cày, Hương Mỹ, Thạnh Phú,  B́nh Đại, Phước Hưng.

·        Dân cư.

Người BếnTre gồm đa số là người Việt miền ngoài,nhiều nhứt là Quảng B́nh, Quảng Trị,Thừa Thiên, Quảng Nam,Quảng Ngải,B́nh Định và người Minh Hương đến rải rác từ nhiều thế kỷ trước. Tất cả đến BếnTre với hai bàn tay trắng,nhưng giàu nghị lực và trí thông minh; tiền nhân BếnTre vừa khắc phục thiên nhiên, vừa xây dựng, phát triển,vừa bảo vệ làng xóm trong tinh thần trọng nhân nghĩa ,phóng khoáng, chống áp bức và bất công bất luận từ đâu đến.Đại diện cho tiền nhân BếnTre, hậu thế chúng ta rất hănh diện về sự đóng góp,xây dựng, về những tấm gương sáng chói của các bậc:

*** Ông Già Ba Tri:Tên thật Thái Hữu Kiểm, cháu nội Ông Thái Hữu Xưa, gốc người Quảng Ngải, đă sanh cơ lập nghiệp tại Ba Tri từ thế kỷ 18; đă có công giúp Chúa Nguyễn Ánh và được phong chức  Trùm Cả An B́nh Đông quận Ba Tri. Năm 1806, Cả Kiểm dựng chợ Trong nằm bên cạnh rạch Ba Tri, đấp đường xá; chợ càng ngày càng tấp nập phát triển. Chợ có trước là chợ Ngoài, cách chợ Trong 3 KM. Ông Xă Hạc ở  chợ ngoài chơi ép, đấp đập ngăn chận ghe thuyền từ sông Hàm Luông không vào được chợ Trong. Bị hiếp đáp, Cả Kiểm kiện , Phủ Huyện địa phương xử chợ Trong bị thua với lập luận: ”Mỗi làng đều có quyền đấp đập trong địa phận làng ḿnh”Dân chợ Trong không chấp phán quyết bất công trên,cử Cả Kiểm cùng hai kỳ lăo:

Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi, tất cả khăn gói lên đường đi bộ từ Ba Tri ra Huế-đường dài trên 1000 cây số-để thượng tố lên Vua xin phúc thẩm lại phán quyết bất công của địa phương!

Đến Huế, Vua Gia long vừa băng hà,Vua Minh Mạng thụ lư và phán: ”Dù là làng riêng,nhưng rạch là rạch chung,là đường giao thông chung của cả chợ Ngoài lẩn chợ Trong. Phủ Huyện phải cho dẹp bỏ đập”

Do ḷng cương quyết, không ngại đường xa,được hun đúc bởi ư chí phấn đấu cho lẻ phải và công bằng;phái đoàn do Cả Kiểm hướng dẫn làm xong nhiệm vụ là dẹp bỏ được đập ngăn chận rạch BaTri từ chợ Ngoài!Từ đó, dân BếnTre gọi Cả Kiểm là “Ông Già Ba Tri” và hiện nay, khi nghe nói đến BếnTre là liên tưởng đến vùng đất của Ông Già Ba Tri.

*** Ông Trương Tấn Bửu (1752-1827) Là danh tướng thời Vua Gia Long. Ông c̣n có tên là Long ,người làng Thạnh Phú Đông,Giồng Trôm.Ông giúp Nguyễn Ánh từ đầu.Năm 1802,Ông là Tổng Trấn Bắc Thành,năm 1810 Ông là Tổng Trấn Gia Định Thành.Nhiệm vụ cuối cùng là phối hợp với Ông nguyễn Văn Thoại lo đào kinh Vĩnh Tế.Mất năm 1827, thọ 75 tuổi;hiện nay, tại Phú Nhuận,Gia Định c̣n miếu thờ họ Trương.

*** Ông Vơ Trường Toản (.....1792)Ẩn sĩ  thời tranh chấp Nguyễn Ánh và Nguyễn Tây Sơn.

Quê B́nh Dương, Gia Định.Ông là người tài cao, đức trọng; không cầu công danh,ở ẩn dạy hoc.

Ông đă đào luyện rất nhiều học tṛ giỏi:Ngô Tùng Châu,Trịnh Hoài Đúc,Lê Quang Định,Ngô Nhân Tịnh,v.v.Nguyễn Ánh thường lui tới với Vơ Trường Toản để tham vấn quốc sự và đă nhiều lần mời hợp tác nhưng Ông luôn chối từ.Mất năm 1792  và Nguyễn Phúc Ánh ban hiệu :Gia Định xử sĩ Sùng Đức Vơ tiên sinh.Khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ,Ông Phan Thanh Giản và nhiều học tṛ khác đứng ra lo việc cải táng, dời mộ Ông  Vơ Trường Toản đem về BaTri BếnTre với lư do là không để mộ Thầy nằm nơi đất địch chiếm!

*** Ông Phan Thanh Giản (1796-1867) Gốc người Minh Hương,lúc đầu, gia đ́nh định cư vùng B́nh Định, sau di cư vào vùng Ba Tri BếnTre.Tiến sĩ đầu tiên tại vùng đất mới  phương Nam năm 1826.Tham chánh,do tánh t́nh cương trực, bi thăng gián nhiều lần:Ông đă là Thượng Thơ Bộ H́nh,Bộ Hộ,trưởng đoàn thương thuyết tại Pháp để mong chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.Nhờ xuất ngoại nhiều lần , Ông nhận chân sự ưu thế của khoa học và kỷ thuật,dâng sớ mong Vua và triều đ́nh Huế sớm canh tân đất nước về mọi mặt.Vua không để ư, triều đ́nh không nghe, Ông đă tâm sự.

Từ ngày đi sứ đến Tây kinh,

Thấy việc Aâu Châu phải giật ḿnh.

Kêu rủ đồng bang mau thức dậy

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin !

Đang đảm nhận nhiệm vụ Kinh Lược Sứ miền Tây Nam Kỳ ,xâm lược Pháp đem quân đe dọa bản doanh Vĩnh Long và xua quân đánh chiếm An Giang và Hà Tiên;đưa tối hậu thơ buộc Ông phải lên tàu chiến Pháp đang neo tại Vĩnh Long để thương thuyết.Biết rơ dă tâm của xâm lược Pháp và thực lực của quân ta;Ông Phan Thanh Giản,một mặt cho án binh bất động, một mặt cho mật báo với Triều Đ́nh Huế để xin chỉ thị.Chờ, chờ mải không được tin:

Trạm Bắc ngày chiều tin điệp vắng

nhưng được  hung tin : An Giang và Hà Tiên đă lọt vào tay xâm lược Pháp! Người quân tử đất BếnTre cùng đường,chọn cái chết để giăi bày ḷng trung quân ái quốc .Hành động cuối cùng:tại đất Vĩnh Long,Ông Phan Thanh Giản dặn con cháu sau nầy không được hợp tác với thực dân Pháp, Ông hướng về phương Bắc, lạy Vua 5 lạy rồi tự kết liễu đời ḿnh bằng chén độc dược sau 17 ngày tuyệt thực.Danh sĩ phương Nam –Phan Thanh Giản-vĩnh viễn ra đi ngày 4/8/1867.Trong các bài điếu văn, bài thơ truy niệm Phan Thanh Giản của cụ Đồ Chiểu thường được hậu thế nhắc lại để tỏ ḷng kính phục Phan tiên sinh:

Non nước tan tành hệ bởi đâu

Dàu dàu mây bạc cơi Ngao Châu

Ba triều công cán vài hàng sớ

Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu

Trạm Bắc ngày chiều tin nhạn vắng

Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu

Minh sinh chín chữ ḷng son tac

Trời đất từ rày mặc gió Thu!

Phan tiên sinh là nhà ái quốc, chống đỡ giang san Việt trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngả.Thế kỷ 15, Việt Nam có danh sĩ Nguyễn Trải;thế kỷ 19 chúng ta có  đại công thần Phan Thanh Giản người làng Ba Tri,tỉnh BếnTre.

*** Nguyễn Đ́nh Chiểu (1822-1888).Người B́nh Dương,đậu Tú Tài Gia Định năm 1843,năm 1847 ra Huế chuẩn bị kỳ thi Hương Hay tin mẹ mất, bỏ thi,trở về Nam thọ tang mẹ.Thương mẹ, khóc nhiều,bị mù mắt!Về lại Gia Định,dạy học nên người địa phương gọi là Cụ Đồ Chiểu.

Theo Nho học một cách triệt để nên Cụ Đồ Chiểu chống các tôn giáo khác một cách quá độ.

Thà đui mà giữ đạo nhà

C̣n hơn có mắt, ông cha không thờ.

Năm 1859,Pháp đánh chiếm SàiG̣n,Đồ Chiểu về lánh nạn tại Cần Giuộc rồi di cư và ở luôn tại  Ba Tri, BếnTre để vừa dạy học, hốt thuốc chữa bịnh, vùa cố vấn nghĩa quân chống Tây qua thơ ca.Biết Cụ Đồ Chiểu có nhiều ảnh hưởng đối với nghĩa quân,viên Chánh Tham Biện BếnTre là  Mr Ponchon đă 3 lần đến tận nhà Cụ để t́m cách chiêu dụ:

Lần 1= đề nghị trả lại đất đai cho Cụ ở B́nh Dương. Không nhận và Cụ trả lời:

Nước chung đă mất,đất riêng giữ làm chi?

Lần 2=đề nghi cấp tiền dưỡng lăo cho Cụ. Cụ từ chối.

Lần 3=Bản Lục Vân Tiên có nhiều chỗ không đúng nguyên văn bản chánh, xin Cụ hiệu chính.

Cụ nhận lời.

Ngoài tập thơ nổi tiếng Lục Vân Tiên, Cụ Đồ Chiểu c̣n sáng tác rất nhiều tác phân lớn như:Dương Từ Hà Mậu,Ngư Tiều Y Thuật vấn đáp,Gia Huấn Ca và nhiều thơ văn ái quốc khác

Cụ Đồ Chiểu mất năm 1888.Toàn dân khắp cả nước đều tỏ ḷng thương tiếc và kính nể trọng gương ái quốc của Cụ :

Sự đời muốn khuất đôi tṛng mắt

Ḷng đạo xin tṛn một tấm gương!

*** Ông Phan Văn Trị (1830-1910 ) Người Gia Định,đậu Cử Nhơn năm 1849,không làm quan.Khi Pháp chiếm Saig̣n,ông di cư về BếnTre,hợp cùng Cụ Đồ Chiểu;cố vấn nghĩa quân chống Tây.Trong số Nho học hợp tác với Pháp,có ông Tôn Thọ Tường làm thơ kêu gọi sĩ phu về hợp tác với tân trào qua bài thơ sau:

Tự Thuật

Giang sơn ba tỉnh hăy c̣n đây

Trời đất xui chi đến nỗi nầy

Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo

Mây tuôn đen kịt khói tàu bay

Xăng văng chậm tính thương đ̣i chổ

Khấp khởi riêng lo biết những ngày

Miệng cọp hàm ṛng chưa dễ chọc

Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!

Để trả lời bài tự thuật trên,chí sĩ Phan Văn Trị họa lại nguyên vận bài thơ trên:

Tự Thuật

Hơn thua chưa quyết đó cùng đây

Chẳng đă,nên ta phải thế nầy!

Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,

Cồn Rồng dù mặc bụi tro bay.

Nuôi muông, giết thỏ c̣n chờ thuở,

Bủa lưới săn nai cũng có ngày.

Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,

Ḷng ta sắt đá há lung lay!

Qua bài thơ bút chiến trên,chí sĩ họ Phan được sĩ phu khắp nước tán thưởng, nể phục!

Sau khi Pháp chiếm VĩnhLong (lúc đó BếnTre thuộc VĩnhLong),Cử Trị di cư vào CầnThơ,hợp cùng Ông Bùi Hữu Nghĩa và Huỳnh Mẩn Đạt,tiếp tục yểm trợ tinh thần nghĩa quân chống Tây vùng Hậu Giang.Mất năm 1910,mạnh thường quân CầnThơ và BếnTre hợp tác xây mộ Ông Phan Văn trị nằm tại Phong Điền CầnThơ.

*** Ông Petrus Trương Vĩnh Kư (1837-1898) Một thiên tài về ngôn ngữ và văn học.Người làng  CáiMơn Bếntre (trước thuộc VĩnhLong)Nhà nghèo, mô côi cha từ lúc lên ba,rất thông minh.Học chữ Nho  tại địa phương,được  học bổng  đi học ở Nam Vang lúc lên chín và được tiếp tục học tại học viện Giáo Hoàng tại Penang ở MảLai.Nhờ  thiên phú về ngôn ngữ học,ngoài ngôn ngữ LaTinh, ông tự học qua các tiếp xúc với sinh viên và giáo sư của các quốc gia khác trong khi du học;Petrus Kư  hiểu biết 11 ngôn ngữ  Đông phương và 15 ngôn ngữ Tây phương .Ông nghe, nói, viết một cách chính xác và lưu loát: Pháp,Anh,Ư,Tây Ban Nha,Hy Lạp và Ấn Độ.Ông được cả thế giới ngưỡng mộ và vinh danh Ông là một là một Nhà Bác Học về ngôn ngữ học.

Học xong, về nước  năm 1859,vừa lúc Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.Nhờ giỏi Pháp ngữ,Petrus Kư được chọn làm thông dịch viên  nơi hội nghị Pháp Việt tại Huế năm 1862 và rồi ,Ông được chọn làm trưởng ban thông dịch trong phái bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp tại hội nghị Paris năm 1863 để ViệtNam mong chuộc lại 3 tỉnh Biên Ḥa, Gia Định và Định Tường.Tất cả tham dự viên tại hội nghị Paris lúc đó đều vô cùng ngạc nhiên và cảm phục khả năng ngôn ngữ của Petrus Kư trong công tác chuyển dịch các văn bản ngoại giao cùng lời đối thoại tại hội nghị.Phái đoàn lưu lại Paris 8 tháng chờ chuyến tàu,nhân dịp nầy,Ông Petrus Kư có dịp bệ kiến Đức Giáo Hoàng,viếng thămmột số nhân vật và một số nơi tại Âu Châu.Ông có dịp t́m hiểu tại chỗ  nền văn minh Âu Châu. Về SàiG̣n năm 1864 và  lần lượt đảm nhận các trọng trách:

-Chủ bút Gia Định báo,tờ báo Việt ngữ đầu tiên của ViệtNam xuất bản năm 1867

-Giám Đốc trường thông ngôn

-Giáo sư trường Sư Phạm và trường  Ngôn Ngữ Á Đông

-Năm 1874 Ông được chọn là Toàn cầu Bác Học và được bầu vào một trong  18 Văn Hào Thế Giới

Cũng nhân chuyến công tác tại Pháp,Petrus Kư có dịp giao tiếp các mhà trí thức như Victor Hugo,Littre,Ernest Renan,Paul Bert..v.v. Và 22 năm sau,người bạn trí thức năm xưa Paul Bert được bổ nhiệm  làm Toàn Quyền Đông Dương và đến Sàig̣n tháng 2 /1886.Nể trọng tài năng và tư cách,Paul Bert ngày 1/4/1886 mời Petrus Kư hợp tác trong cương vị:

Thay mặt Pháp tại Cơ Mật Viện của triều đ́nh Huế và đồng thời là cố vấn bên cạnh Vua Đồng Khánh.

T́nh h́nh chánh trị nước ta lúc đó vô cùng khó khăn và phức tạp.Các phong trào Cần Vương nổi lên chống Pháp khắp mọi nơi:

Nghĩ ra nông nổi thêm rầu

Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi.

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Toàn Quyền Paul Bert là duyệt lạicác điều khoản của các ḥa ước đă kư  trước đây giữa triều đ́nh Huế và Pháp (1862,1874,1884).Nhân dip nầy, Ông Petrus Trương Vĩnh Kư đă đem những điều khoản bất lợi cho triều đ́nh Huế thảo luận lại với Paul Bert;hành động trên của Petrus Kư bị  một số viên chức Pháp nghi ngờ Ông!

Ngày 11/11/1886 Toàn Quyền Paul Bert bất ngờ bị bịnh chết. Ông Paulin Vial thay thế và có đường lối đối với triều đ́nh Huế trái ngược hẳn khi so với Paul Bert. Petrus Trương Vĩnh Kư từ nhiệm ,lui về SàiG̣n dạy học và viết sách.Ông sáng tác rất nhiều và thuộc nhiều loại khác nhau:Từ điển,Sử kư, Địa lư,Khoa học,Văn chương,Dịch thuật;tất cả 141 quyển , hoàn tất và phát hành 119 quyển.

Ông Petrus Trương Vĩnh Kư đă dầy công xây đấp nền Văn Học Quốc Ngữ,một nền văn học thật sự mới được xây dựng có hơn 150 năm nay;trước đó ,Văn Học Việt được diễn tả và phổ biến bằng chữ Nho và chữ Nôm và thường được tŕnh bày dưới h́nh thức  thơ phú, tức văn vần.Chữ Quốc Ngữ  tuy đă có từ  thế kỷ 17  nhưng chỉ được dùng trong phạm vi truyền đạo Thiên Chúa.Trong ṿng 100 năm nay, mỗi học giả ViệtNam chân chánh, tùy theo khả năng,tùy theo lănh vực chuyên môn ,mỗi người có một cái nh́n riêng biệt về sự đóng góp của nhà bác học Petrus Kư vào lâu đài văn hóa Việt:

*Ông Phạm Sơn, một nhà giáo dục đă nhận định: Qua Thông Loại Khóa Tŕnh #Miscellanees ou Lectures instructives 1888,Ông Petrus Kư là người đầu tiên phổ biến Văn hoá Việt bằng chữ Quốc Ngữ.

*Linh Mục Thanh Lảng đă nhận định:Ông Petrus Kư xứng đáng là bậc chỉ đạo của thời kỳ nầy,linh hồn của thế hệ 1862,Ông Thầy khai đường mở lối cho thế hệ 1913 hoặc:

”Với Petrus Kư, mới thật sự khai mở một kỷ nguyên mới:Kỷ nguyên văn xuôi

*GS Phạm Thế Ngũ “ Petrus Kư là người đề xướng lên những công việc mà rồi sau nầy nhóm Nam Phong ngoài Bắc tiếp tục như:phiên âm văn Nôm cũ,khảo cứ về văn hóa và chế độ nước nhà,sưu tầm những ca dao tục ngư,cổ tích cuă ta,dịch thuật ngoại văn ra Quốc Ngữ”

*Học giả Ứng Ḥe Nguyễn Văn Tố  đă nhận định về Ông Petrus Trương Vĩnh Kư ø :

BÁC HỌC,TÂM THUẬT,KHIÊM NHƯỜNG

Bên cạnh sự đấp xây nền tảng và đóng góp to lớn vào nền văn học QuốcNgữ vào buổi sơ khai,nhà bác học Petrus Kư c̣n là vị Thầy của nền văn minh miệt vườn thuộc đồng bằng Cửu Long và Đồng Nai.Các loại cây ăn trái ngon, ngọt,bùi,gịn: Sầu Riêng,Ḅn Bon,Chôm Chôm Java,Măng Cụt v.v.atấ cả đều do chính tay Ông mang hột giống từ vùng đất MảLai đem về trồng đầu tiên ở vùng CáiMơn.Lần lần được phổ biến sang các vùng kế cận của đồng bằng Cửu Long và Đồng Nai như Lái Thiêu, Long Thành v.v Trái cây ngon, thương mại tốt,lợi tức cao,nơi nào đất đai thuận lợi,thay v́ trồng lúa,nhà nông trồng cây ăn trái;nhà nông biến thành nhà vườn.

Ăn trái nhớ kẻ trồng cây.

Vừa thừa hưởng cây Văn Hóa Quốc Ngữ vừa thưởng thức trái cây ngon ngọt!

Tưởng nhớ tài cao đức trọng của nhà Bác Học đất CáiMơn BếnTre: Trương vĩnh Kư  là việc đáng làm và phải làm đối với những người có Văn Hóa và đang làm văn hóa vậy!

*** Lương Khắc Ninh (1862-1943) người tổng Bảo Hựu, BếnTre ,hợp tác với Ông Trần Chánh Chiếu lập tờ Nông cổ Mín đàm và sau đó làm chủ bút với chủ trương :cổ động Người Việt phải lo phát triển Nông,Công,Thương,ủng hộ phong trào Duy Tân , Đông Du  của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh;khích lệ văn nhân thi hữu như Nguyễn Khắc Huề,Nguyễn Dư Hoài ,Bùi Quang Nho cũng người BếnTre sáng tác nhiều thơ văn yêu nước trong tinh thần duy tân, tự cường và dân tộc chủ nghĩa.

*** Bùi Quang Chiêu (1873-1945) Người Mỏ Cày Bến Tre,đậu Kỹ Sư Canh Nông tại Pháp,về nước làm việc tại Saig̣n và Huế.Hoạt động chánh trị từ năm 1923,sáng lập viên đảng Lập Hiến Đông Dương với mục đích giới hạn bớt quyền hạn cua Toàn Quyền Đông Dương qua sự tranh đấu tại nghị trường.Chủ trương Pháp Việt đề huề với mục đích phát triển Đông Dương qua sự phát triển Canh Nông, Kỹ Nghệ,Thương Mại.

Cộng Sản Việtnam lên án đảng lập Hiến Đông Dương là đảng của giai cấp tư sản.Oâng bị Việt Minh giết tại Chợ Đệm ngày 29/9/1945.

*** Lê Hoàng Mưu (1879-1941) Người tổng Bảo Hựu BếnTre,nhà báo, bút hiệu:

 Mộng Huê Lầu,chủ bút tờ Lục Tỉnh Tân Văn từ năm 1921.Biệt tài của Ông là bút chiến;tác phẩm nổi tiếng :Hà Hương phong nguyệt có mục đích phê b́nh, đả kích lối sống thác loạn của giới trẻ Việt đang Âu hóa Xă hội Việt Nam thuở đó.Hà Hương phong nguyệt là đối trọng với  Đoạn Tuyệt của Nhất Linh trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thuộc thế hệ 1930-1945.

*** Nguyễn Ngọc Tương (1881-1951) Người làng An Hội BếnTre, tốt nghiệp Chasseloup Laubat 1902. Làm việc ở Sàig̣n, CầnThơ, BếnTre, từ nhiệm 1930 để lo phát triển việc Đạo tại BếnTre song song với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tây Ninh.Năm 1938

Ông lập Đại Đạo Tam Kỳ BếnTre và xưng danh Đức Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

*** Nguyễn Văn Vinh (1885-1935) Người làng An Hội BếnTre,tốt nghiệp Sư Phạm Saig̣n, lúc đầu dạy học ở Sóc Trăng, sau đổi về Bếntre từ năm 1914.Ông là một trong những sáng lập viên Hội Khuyến Học BếnTre để truyền bá chữ Quốc Ngữ. Bên cạnh nhà giáo đầy nhiệt tâm, ông c̣n là nhà văn rất nặng ḷng với đất nước.Ông trước tác nhiều tác phẩm thiên về luân lư cùng binh vực kẻ thấp cổ bé miệng bị nạn cường hào:

-Truyện Cô Lê tṛ Lư

-Truyện mẹ chồng nàng dâu

-Truyện Tam yên di hận

Với tác phẩm Tam yên di hận (Xă Hội) đă kích những cảnh bất công trong xă hội lúc bấy giờ.Sách gây tiến vang rộng trong dân chúng,tạo nhiều ảnh hưởng,sách bị tịch thâu ông bị mất việc làm và bị đưa ra ṭa;mất tại BếnTre năm 1935.

*** Nguyễn Văn Bá (1904-1937) Quê Chợ Lách BếnTre,tốt nghiệp Sư Phạm SàiG̣n.

Là một nhà giáo rất yêu nghề,bịnh nên nghĩ dạy học và gia nhập làng báo năm 1930, chủ nhiệm báo Thần Chung.Ông là tác giả tiểu thuyết “Người vợ hiền” được giải thưởng Hội Luân Lư Nam Kỳ; người cùng thời đă có nhận xét về Ông” Trong cuộc đời dạy hoc, viết văn, làm báo,Ông Nguyễn Văn Bá truyền bá luân lư,đạo làm người,phổ biến ḷng yêu nước,t́nh yêu quê hương, tranh đấu bằng ng̣i viết chống áp bức, bóc lột, bất công.”

*** Mai Thọ Truyền (1905-1973) quê BếnTre,thâm cứu về Phật Giáo dưới bút hiệu Chánh Trí,sáng lập viên Chùa Xá Lợi và Hội Phật Học Nam Việt.Thập niên 60, Ông tham chánh trong nhiệm vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa Giáo Dục.Ông có công lớn trong việc phục hoạt các tác phẩm cổ văn.Trong lănh vực Phật Học, Chánh trí Mai Thọ Truyền đă trước tác rất nhiều, nổi tiếng nhứt là các khảo luận về Phật giáo trong các tạp chí về Phật Học, phiên dịch rất nhiều kinh sách về Phật giáo ra Việt ngữ; mất ngày 17/4/1973 tại SàiG̣n.

*** Bà Mai Huỳnh Hoa (1910-1987) Là nữ văn sĩ gốc BếnTre,cây viết rất nổi tiếng trên các tạp chí,đặc san SàiG̣n thuộc thập niên 40-50,bà là ái nữ học giả Mai văn Ngọc,hiền thê nhà ái quốc Phan Văn Hùm,cháu ngoại nữ sĩ Sương Nguyệt Ánh tức cháu cố Cụ Đồ Chiểu.Bà có tinh thần yêu nước rất cao,hợp tác với Bà Nguyễn An Ninh để hết ḷng giúp đỡ chồng con trên đường đấu tranh cho đại nghĩa dân tộc;mất ngày 25/7/87 tại SàiG̣n.

*** Danh Nhân hiện đại:

Hiện đại được hiểu là các bậc cha anh chúng ta được sanh ra từ thập niên 1910 trở đi.Với các vị đó,đối với bề dầy của lịch sử dân tộc, hăy c̣n tương đối mỏng đối với các sử gia chân chính;thêm vào đó, do biến cố đau thương của đất nước :30/4/1975,

những ǵ là chân lư trước 75, sau 75 là sai lầm và ngược lại! Và đặc biệt hơn nửa:sông nước BếnTre nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung hoàn toàn chưa có tự do nhứt là tự do ngôn luận và tự do đi lại,chúng tôi hoàn toàn thiếu các tài liệu trung thực để t́m hiểu thân thế và sự nghiệp của rất nhiều danh nhân trong giai đoạn nầy! Kính xin quư thân hữu và đồng hương BếnTre cho phép chúng tôi tạm thời chưa đề cập đến các danh nhân BếnTre hiện đại.

*** Các vị ẩn Danh.

Khi đề cập đến các gương sáng chói của BếnTre,chúng ta không có quyền quên các vị tiền nhân của chúng ta :thông minh, giàu nghị lực,ư chí phấn đấu,không nề gian khổ,quyết tâm xây dựng, phát triển và ǵn giữ đất nước BếnTre nhưng không bon chen để cầu danh, cầu lợi.Diễn tả một cách đầy đủ hơn về công trạng của các vị trên;Giáo Sư Nguyễn Ngoc Huy đă ghi nhận:

Họ là những anh hùng không tên tuổi

Trong loạn ly như giữa lúc thanh b́nh

Bền một ḷng can đảm chí hy sinh

Dâng đất nước cả một đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

Nhưng máu họ đă len vào ḷng đất

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.

Và anh hồn chung với tấm tinh trung

Đă ḥa hợp làm linh hồn giống Việt.

·         BẾNTRE NGÀY NAY

Kinh tế: ba cù lao: An Hóa, Bảo và Minh hoàn toàn do phù sa sông Cửu Long bồi đấp nên từ nhiều thiên niên kỷ trước đây.Sinh hoạt kinh tế là nông ,ngư,và chăn nuôi.Sự lầm than hay thoải mái của hơn một triệu dân BếnTre tùy thuộc vào mưa thuạân gió ḥa cùng với các tác động phối hợp của biển Đông và sự vơi đầy của ḍng Cửu Long .Cây lúa, cây dừa, cây mía,cây sầu riêng.v.v là đặc sản BếnTre.Vài số liệu thống kê sau đây trích từ  tài liệu của World Bank,NEDECO,United Nations Development Programs cho thấy con cháu Ông Già BaTri làm ăn ra sao trong giai đoạn hiện tại.

Sản phẩm và Sản lượng (1989)

                         TOÀN QUỐC            ĐBCL                   BẾNTRE     ĐƠN VỊ                    

LÚA                    18,996,000            8,883,000                  335,000        TẤN

DỪA                   16,235,000          13,695,000                5,678,000        TRÁI

MÍA (đường)            376,000                 NA                         30,000        TẤN

CÂY ĂN TRÁI             NA                1,400,800                  100,000        TẤN

NGƯ HẢI SẢN         671,000               277,000                    40,000        TẤN

TRÂU B̉              3,202,000              297,000                    50,000        CON

HEO                    12,217,000            1,925,000                   300,000       CON

GÀ VỊT                        NA                     NA                   3,000,000       CON

Căn cứ vào các số liệu trên,chúng ta có một vài nhận định:

LÚA: Năm 1989, với dân số BếnTre 1,143,876 người,sản xuất 335,000 tấn lúa.Tính tṛn,mỗi cư dân BếnTre sản xuất chưa được 300 Kg lúa mỗi năm;mỗi người có nhu cầu tối thiểu 250 Kg lúa,một phần để dành làm lúa giống,một phần để nuôi gia súc,BếnTre hiện thiếu lúa ăn!

DỪA: Tính đến 1990,BếnTre có khoảng 40,000 mẫu dừa,được trồng nhiều nhứt tại quận châu thành TrúcGiang,An Hóa,Giồng Trôm và MỏCày.Với hơn 5 triệu trái dừa, hàng năm sản xuất khoảng 20,000 tấn dầu dừa.

CÂY ĂN TRÁI: Với huê lợi:một mẫu đất trồng cây ăn trái bằng 10 mẫu dừa,vùng ChợLách,MỏCày,TrúcGiang,GiồngTrôm và AnHóa;bà con nông dân đang biến đổi vườn dừa thành vườn cây ăn trái.Vùng CáiMơn, quê hương nhà Bác Học Trương Vĩnh Kư,nơi có trái cây ngon ngọt nhứt xứ;nhà nông gây tạo cây giống bằng cách chiết cây, ghép nhánh để xuất tỉnh mang về lợi tức rất khả quan.

MÍA: BếnTre hiện có khoảng 10,000 mẫu đất trồng mía,nhiều nhứt là vùng  Giồng Trôm, Hương Mỹ.Cán mia làm đường mật,mỗi năm sản xuất được khoảng 30,000 tấn đường.

NGƯ HẢI SẢN: Với hơn 60 KM bờ biển: B́nh Đại,BaTri và Thạnh Phu,hơn 1000  ghe tàu đánh cá lớn nhỏ;đánh bắt cá tôm bằng cách cào,lưới đáy, giăng câu,mỗi năm thu hoạch khoảng 40,000 tấn hải sản.

BếnTre ngày nay chỉ có hải sản,tức nguồn thu hoạch từ biển;cá sông ,cá đồng,cá nước ngọt  đâu không thấy?

Ngày nay,cá sông và cá đồng Bến Tre đang từ từ biến mất v́:

- Các nhà máy ven sông xả chất phế thải ra sông một cách tự do,không xử lư;hậu quả là cá con đă bị triệt tiêu ngay từ trong trứng nước!

- Đồng ruộng,nông dân dùng phân bón hóa học một cách rất bừa bải nên giết  hết cá con!

- Trầm trọng hơn nửa,các xứ thượng nguồn ḍng sửa mẹ CửuLong như Trung Quốc,Lào,TháiLan đă và đang xây quá nhiều đập thủy điện,ngăn chận sự di chuyển cá sông theo ḍng CửuLong xuống hạ nguồn t́m mồi và trở về nguồn sanh sản,khiến nhiều loại cá sông bị diệt chủng!Đây là một thiệt hại rất to lớn cho nền ngư nghiệp của vùng sông nước BếnTre!

Những nét đặc thù của vùng đất Ông Già BaTri đă được tŕnh bày trên. BếnTre và Đồng Bằng Cửu Long ( ĐBCL) có ǵ giống nhau không?

Có rất nhiều:

*** Cùng nhau sáng tạo một nếp sống mới:

Vùng đất mới Phương Nam trong đó có BếnTre là vùng đất nơi đó hầu hết mọi người là nạn nhân của chế độ phong kiến phương Bắc: Ngán ngẩm cảnh vào luồn ra cúi bên Vua Lê, bên Chúa Trịnh,ê chề chế độ áùp bức bốc lột nhà Thanh,người xứ Ngũ Quảng, Qui Nhơn,Tuy Ḥa, người Minh Hương lần lần đi về phương Nam. Càng đi càng gặp nhiều khó khăn;lúc ban sơ,miền Nam không là thiên đường với cá đầy ao, lúa đầy bồ!Họ đă đổ rất nhiều xương máu,mồ hôi, nước mắt mới biến nơi hoang vu đầy cọp, beo, cá sấu, rắn độc, đỉa, vắt, muỗi mồng thành giải đất ph́ nhiêu.Khai khẩn rừng rậm hoang vu,tạo lập xóm làng;tất cả họ cùng nhau chung sống một cách thuận ḥa trong t́nh trọng nghĩa khinh tài,họ là lớp người mới,tinh thần mới có tinh thần phóng khoáng thực dụng, họ không lư luận quanh co,muốn ǵ nói đại ra,ghét đạo đức giả;họ không thuộc ḍng dơi quí tộc lâu đời như văn hào Nguyễn Du đă từng xác định: Bao giờ ngàn Hồng hết cây,sông Rum hết nước,họ nầy hết quan

Cùng nhau đứng dậy chống thực dân xâm lược:

Vừa xong cuộc Nam tiến,trong lúc mọi người đang t́m cách tạo lập một một nếp sống  mới hài ḥa giữa người Việt, người Minh Hương,người Thủy Chân Lạp, người Chăm;nạn thực dân phương Tây xảy đến! Những phát súng đại bác đầu tiên của Pháp bắn vào các đồn binh ta tại ĐàNẳng hồi 1847 vừa có tánh cách vừa thăm ḍ phản ứng vừa báo hiệu làn sóng thực dân phương Tây đang t́m thuộc địa bắt đầu tại vùng biển Đông! Nhận chân sự yếu kém của quân dân ta, ngày 10/2/1859 chiến thuyền Pháp đánh Vũng Tàu  và cửa Cần Giờ.Trong ṿng 6 tiếng đồng hồ, mặc dù quân dân ta cố chống đỡ nhưng cũng không địch lại và đoàn quân tan rả.Nhiều trận thủy chiến nối tiếp nhau , đến ngày 16/2/59, chiến đoàn Pháp đến sông Sàig̣n đánh dấu giai đoạn Pháp bắt đầu thôn tính Nam Kỳ và rồi dẫn tới toàn cơi Việt Nam;chấm dứt giai đoạn chiếm đóng bằng ḥa ước Patenotre ngày 6/6/1884, toàn cơi ViệtNam bị đặt dưới sự đô hộ của thực dân Pháp. Trong giai đoạn 25 năm 1859-1884: BếnTre có Phan Liêm, Phan Tôn-con Kinh Lược Sứ  Phan Thanh Giản-,G̣ Công có Trương Công Định,MỹTho có Thủ Khoa Huân,CầnThơ có Bùi Hữu Nghĩa, Sa Đéc, Cao Lảnh có Thiên Hộ Dương,Rạch Giá có Nguyễn Trung Trực, Châu Đốc có Trần văn Thành, Trịnh Quang Nghị,Trà Vinh có Nguyễn Xuân Phụng v.v.Tất cả  tuy không đạt được mục tiêu là đuổi xâm lược ; nhưng nói lên ḷng ái quốc, ư chí chống xâm lăng, không khuất phục cường quyền của cư dân ĐBCL và làm cho thực dân Pháp bị điên đảo và nể phục.

Bị phân biệt đối xử trong việc học hành của con trẻ:

Người Việt Nam nói chung và dân ĐBCL nói riêng rất hiếu học v́ Hiểu biết là sức mạnh  hay Nửa bụng chữ là một hủ vàng; Nhờ chữ Quốc Ngữ dễ học khi so với Chữ Hán hay chữ Nôm,dân ĐBCl đi học rất đông;thêm vào đó,phong trào Khuyến Học nổi lên khắp mọi nơi. Nhiều Làng,Tổng,tuy ngân sách trung ương thiếu hụt,mạnh thường quân trong tỉnh bỏ tiền, tặng đất cất trường học, mướn thầy giáo.Một vài số liệu thống kê hồi năm 1927 cho ta  một vài khái niệm:

TỈNH                SỐ HỌC SINH                    TỈNH                      SỐ HỌC SINH

BẾNTRE               8136                              CẦNTHƠ                    5539          

G̉CÔNG             3412                              LONGXUYEN              4162           

MỸTHO                 9574                              RACHGÍA                    2942           

SAĐÉC                 6689                               SÓCTRĂNG                3528           

TRÀVINH              3666                              VĨNHLONG                  6013

Tổng cộng:  44,030 sinh trên tổng số dân khoảng không đầy 3 triệu người của ĐBCL.

Tỷ lệ: 15 Học sinh trên mỗi 10,000 dân hồi năm 1927.

Thời Pháp thuộc,buổi sơ khai của nền văn học Quốc ngữ,học sinh được khuyến khích đến trường,số học tṛ  tăng dần theo đà tăng dân số.

Sau biến cố 1975,giới trẻ ĐBCL gặp phải nạn kỳ thị: Học tài thi lư lịch và”Trẻ em có cha mẹ là cựu công chức hay quân nhân ViệtNam Cộng Ḥa,  không được tiếp tụchọc ở Đại Học!

Hiện tượng kỳ thị trên được dẫn chứng bằng số liệu thống kê của của  Mekong Master Plan của NEDECO hồi năm 1991:ĐBCL  chỉ  có 5 Sinh Viên trên mỗi 10,000 dân; trong khi đó,trung b́nh toàn quốc là 17 Sinh Viên trên mỗi 10,000 dân!

·         Môi trường kinh doanh kỳ lạ:

Việt Nam nói chung và ĐBCL nói riêng,hiện đang “phát triển” xứ sở dưới dạng thức:Kinh Tế thị trường theo định hướng Xă Hội Chủ Nghĩa? Kinh tế thị trường là ǵ? tất cả chúng ta không cần phải nhắc lại đây v́ nó đă có từ lâu rồi,it nhứt là đă có trước cuộc Nam Tiến của dân ta. Định hướng xă hội chủ nghĩa tức là mọi sinh hoạt kinh tế tài chánh đều phải theo đúng đường lối của Đảng tức là theo đúng phương thức của Karl Marx :Nguyên động lực tối hậu của mọi sinh hoạt Kinh Tế Tài Chánh là cuộc đấu tranh trường kỳ giũa giai cấp vô sản và tư bản.Chủ nghĩa Cộng Sản cuối cùng sẽ tiêu diệt Tư Bản!Với chủ trương như vậy th́ làm sao có sự ḥa hợp tin tưởng nhau trong việc làm ăn, buôn bán.Những nguyên tắc căn bản của kinh doanh như:lương thiện, chân thật,tín nhiệm bị coi là đạo đức của Tư Sản!Đạo đức của viên chức nhà nước theo định hướng xă hội chủ nghĩa là trung thành với Đảng và phục vụ giai cấp Vô Sản để đạt được  thắng lợi cuối cùng!Với bối cảnh kinh doanh kỳ lạ như trên,liệu ĐBCL sẽ phát triển được không?

Ngân hàng: Một cách tổng quát,qua cơ chế tăng giảm tiền lời cho vay,ngân hàng dù trung ương hay chi nhánh tỉnh,tất cả có nhiệm vụ điều động khối lượng tiền tệ đang lưu hành trong nền Kinh tế Quốc Gia sao cho duy tŕ được sự ổn định giá cả,ảnh hưởng tốt đến tiết kiệm và đầu tư để đạt được mức tối hảo về nhân dụng, sản xuất,phân phối  giữa doanh nhân và giới tiêu thụ.

Với định nghĩa trên,các hoạt động về ngân hàng tại ĐBCL ra sao?Do biến cố 30/4/1975,với chủ trương đánh gục tư sản,cải tạo nông,công,thương nghiệp và đặc biệt với 3 lần đổi tiền:

Chiến dịch X1             tháng 9/1975

Chiến dịch X2             tháng 5/1978

Chiến dịch X3             tháng 9/1985

Người dân Đồng Bằng Cửu Long cho tới nay hăy c̣n khiếp đảm khi nghe đến 2 chữ : NgânHàng! v́ người dân ĐBCL đă 3 lần bị nhà nước gạt gẫm!Nhứt quá tam!Chử TÍN hoàn toàn chưa tái tạo lại được trong niềm tin của dân ĐBCL đối với các viên chức Xă Hội Chủ Nghĩa!Bằng chứng là dân ĐBCL nói riêng và toàn dân cả xứ nói chung, chưa ai dám tin cậy trong việc sử dụng ngân phiếu ( checks)Mọi giao dịch thương mại được thanh toán bằng “Cây Vàng” hay đồng Mỹ Kim( Dollar) hay chịu khó mang cả bao tiền một cách kồng kềnh và chấp nhận rủi ro,nguy hiểm!

Kỹ Nghệ,Thương Mại và Đầu Tư: Vẩn biết rằng sinh hoạt kinh tế  chánh của vùng ĐBCL là Vựa lúa(10 triệu tấn / năm)vựa cá(300,000 tấn/ năm) và vựa trái cây (1,500,000 tấn/năm )của cả nước.Toàn quốc, năm 1995 xuất cảng gạo Us$549,000,000 và nhập cảng US$339,000,000 phân bón.Một vài con số trên gợi lên mỗi người chúng ta vài câu hỏi căn bản:Đồng Bằng Cửu Long có được bao nhiêu nhà máy xay lúa, chà gạo,bao nhiêu nhà máy biến chế nông phẩm,bao nhiêu tàu đánh cá,bao nhiêu nhà máy đông lạnh,bao nhiêu xưởng đóng, sửa chữa ghe tàu,máy móc,bao nhiêu nhà Xuất Nhập Cảng,vấn đề tiếp thị ra sao;tất cả cơ sở trên làm ăn ra sao, lỗ lời như thế nào,thu dụng bao nhiêu nhân lực,  năng suất lao động như thế nào,huấn luyện được bao nhiêu nhân viên.v.v?Câu trả lời vắng tắt: Tất cả là quốc doanh hay liên doanh.và khu vực kinh tế quốc doanh đang phá sản,đang là gánh nặng của nhân dân cả nước nói chung và của Đồng Bằng cửu Long nói riêng!Tại sao?V́ bị giới hạn của một bài báo,chúng tôi xin được vắn tắt:

- Cán bộ quản lư không đủ khả năng

- Bao cấp(Nhà nước hàng năm phải chi hàng ngàn tỷ đồng Việt Nam cho việc bao cấp về vốn đầu tư vào khu vực kinh tế quốc doanh

- Lảng  phí của công

- Buôn lậu ( Một xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ,chuyển sang nhập cảng hàng lậu nhằm  bù đắp nguồn vốn bị thâm thủng.)

- Năng suất các cánh đồng lúa của ĐBCL ra sao?Không khá!Theo sự nghiên cứu của World Bank hồi 1990 cho biết  năng suất nông nghiệp của Việt Nam kém hơn các quốc gia trong vùng như Mả Lai,Tích Lan,Nam Dương,Trung Quốc, Nam-Bắc Hàn.Tại sao?

Có rất nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân quan trọng nhứt là đường lối chính sách của nhà nước:

- Chính sách công hửu hóa (1976-1986) làm nông dân chỉ canh tác cầm chừng.

- Sự phân biệt đối xử giữa các miền địa dư khác nhau khiến miền Bắc được ưu đăi hơn miền Trung và Nam qua việc cung cấp phân bón, cấp ngân khoản nghiên cứu khoa học nông nghiệp và gởi chuyên viên nông nghiệp tu nghiệp ở hải ngoại.

Đồng Bằng Cửu Long thất nghiệp cao:

T̀NH H̀NH LAO ĐỘNG ĐBCL ( 1989)

TỈNH                                         DÂN SỐ          LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG

BếnTre                                      1,214,000                555,000

MỹTho & G̣Công                    1,484,000                703,000

Long An                                     1,120,000                504,000

Đồng Tháp (SaĐéc&KP&KT)   1,337,000                640,000

LongXuyên & ChâuDốc            1,793,000                703,000

CầnThơ & SócTrăng                2,682,000              1,389,000

RạchGía & HàTiên                   1,199,000                577,000

VĩnhLong & TràVinh                  1,812,000                881,000

BacLieu & CàMau                    1,562,000                668,000

ĐỒNG BẰNG CỬU LONG    14,203,000              6,767,000

Theo số liệu thống kê của NEDECO,  ĐBCL có số thất nghiệp quanh năm là 12%,tính luôn số người bị khiếm dụng ( underemployment) túc là mỗi năm làm việc dưới 180 ngày lao động,tổng cộng lên đến 58% tức hàng năm ĐBCL có khoảng  gần 4 triệu người bị thất nghiệp và thất nghiệp trá h́nh.Quá nhiều!!

Đồng Bằng Cửu Long: Một trong những vùng nghèo nhứt thế giới!

Góp nhặt một vài số liệu thống kê của các tổ chức quốc tế : NEDECO,WORLD BANK,UNITED NATIONSDEVELOPMENT PROGRAMME,về lợi tức tính trên mỗi đầu người –GDP/per CAPITA ở vùng Cửu Long, so  sánh  với các vùng khác của Việt Nam và một vài xứ láng giềng Việt Nam; sẽ cho ta  một khái niệm về cái ṿng lẩn quẩn nghèo đói của cư dân ĐBCL:

THẤT NGHIỆP-NGHÈO ĐÓI-THIẾU HỌC-THẤT NGHIỆP

Do đâu có cái ṿng oan nghiệt trên đang trồng lên đầu ,lên cổ dân Đồng Bằng Cửu Long? Vài đoạn văn trong phúc tŕnh của NEDECO- hồi 1991 đă viết rất nhiều và xin được trích dẩn một vài điểm chánh như sau:”The percentage of Public Investment from Central Government into the Mekong Delta was rather low in comparison with those in other regions...and a just budgetary reallotment policy must take into account

The principles of equality in benefits and obligations among provinces..” xin được tạm dịch là “Số phần trăm về đầu tư công từ Trung Ương vào Đồng Bằng Cửu Long thấp hơn khi so sánh với các vùng khác  và Trung Ương không áp dụng nguyên tắc quyền lợi và trách nhiệm phải được cân bằng  giữa các tỉnh khi lập ngân sách Quốc Gia”.

           TỈNH                       GDP/Capita               XỨ              GDP/Capita

                                         (US $/1989)                                  (US$/1998)

BẾNTRE                                      117              THAILAND          2,140       

MỸTHO  & G̉CÔNG                    107              MALAI                 3,808

LONG AN                                     120              INDONESIA            840

LONGXUYÊN&CHÂUĐỐC             115              PHILIPPINES       1,033

CẦNTHƠ&SÓCTRĂNG                 112              S.KOREA            9,040

RẠCHGÍA&HÀTIÊN                       144              TRUNG QUỐC        790

VĨNHLONG&TRÀVINH                   120              INDIA                     540

SAĐÉC KP-KT(ĐỒNGTHÁP)         117               PHÁP                 24,956

BACLIÊU & CÀMAU                      99               USA                   33,946           

TRUNG B̀NH ĐBCL                     116                VIỆTNAM               150  (1989)  

 

Tạm kết luận:

Người BếnTre là dân Đồng Bằng Cửu Long,dân Đồng Bằng Cửu Long là người ViệtNam,luôn chống độc tài,áp bức,bốc lột;yêu tự do,chuộng công bằng,thích phát triển.

Đồng Bằng Cửu Long đă và đang cung cấp hàng năm hơn 50% tổng sản lượng quốc nội. 80% gạo Xuất Cảng là do dân ĐBCL cày cấy, gặt hái.60% thủy sản của cả xứ là do dân ĐBCL chày,lưới, đánh, bắt.Con gà đẻ trứng Vàng của ngân Hàng ViệtNam Thương Tín thuở nào chính là Đồng Bằng Cửu Long vậy!

Người Đồng Bằng Cửu Long có ǵ?

- Lợi tức tính trên mỗi đầu người thuộc vào loại một trong những vùng nghèo nhứt thế giới!

- Trẻ con bị thiếu dinh dưỡng,học sinh ít tới trường,sinh viên bị ngăn cản trên bước đường lên Đại Học

- Cửu Long,ḍng sửa mẹ luôn luôn bị ngập lụt vào mùa mưa,bị khô cạn vào mùa nắng v́ bị  ngăn chận ở thượng nguồn,bị ô nhiễm v́ các nhà máy ven sông.

Người chủ con gà đẻ trứng vàng đang làm ǵ?

Họ có nhiệm vụ vừa nuôi dưỡng vừa hốt trứng chớ không phải chỉ lo hốt trứng không mà thôi!

Hành vi phân biệt đối xử của Trung Ương cần phải sớm chấm dứt.Quyền lợi và Trách Nhiệm cần phải được cân bằng và là một trong những nguyên tắc căn bản của một tập thể có văn hóa.Người Đồng Bằng Cửu Long không thể cắn răng chịu đựng mải trong cái ṿng lẩn quẩn

Thất Nghiệp-Nghèo Đói-Thiếu Học-Thất Nghiệp. Đă đến lúc người Đồng Bằng Cửu Long phải đứng lên dẹp bỏ những quái lực đang làm quê hương điêu tàn và con người bị tha hóa!

Tương lai Đồng Bằng Cửu Long sẽ sáng sủa hơn khi các điều căn bản trên sớm được thực hiện.

Thành thật mong lắm thay!

Phú Điền

Thu 2000