Chính Trị
Kinh Tế



Luận Bàn về Phát triển Bến Tre



Bến Tre nằm giữa hai nhánh chánh của Sông Tiền (Sông Trước) và sông Tiền lại là một nhánh chánh của sông Cửu Long. Ranh giới phía Bắc tỉnh nhà là dòng chánh sông Tiền chảy ra Biển Đông ở Cửa Đại ; còn nhánh nhỏ hơn phía Bắc chảy ra Cửa Tiểu lại thuộc tỉnh Tiền Giang, kể cả các cồn- cù lao giữa hai nhánh Cửa Tiểu và Cửa Đại. Trong khi phía Nam từ đầu tỉnh nơi ranh giới Bến Tre, Tiền Giang và Vĩnh Long, lại có tên riêng là sông Cổ Chiên chảy ra Cửa Cổ Chiên thuộc Bến Tre và Cửa Cung Hầu thuộc Trà Vinh. Giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên, có hai chi lưu nhỏ hơn nữa chảy ngay giữa tỉnh là sông Ba Lai, chảy ra Cửa Ba Lai và sông Hàm Luông chảy ra Cửa Hàm Luông.

* * *

Quán rằng ghét việc tầm phào,

Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm …

 …Trên đời mấy bậc cố tri,

Mấy trang đồng đạo, mấy người đồng tâm …

(Thầy trò đàm đạo và bộ ba nghĩa khí Vương Tử Trực – Hớn Minh – Lục Vân Tiên, ở truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, sinh năm 1822 và mất năm 1888. Tuy sinh ở huyện Bình Dương, phủ Tân Bình tỉnh Gia Đình, nhưng sau khi Cần Giuộc bị Pháp chiếm, tiên sinh chạy về Ba Tri – Bến Tre năm 1867 và mất tại làng An Đức, tỉnh Bến Tre)

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học chiếu minh tâm.

(Hai câu đối của Petrus Trương Vĩnh Ký, sinh tại Cái Mơn nay thuộc Bến Tre năm 1837 và mất năm 1898, khắc trước cổng trường Petrus Ký -Sài Gòn. Đáng trách là sau 1975, Việt Nam đổi tên trường thành Lê Hồng Phong, không chút nào để tâm Petrus Ký là một trong 18 học giả tài danh nhất quốc tế thời đó, đọc viết thông thạo 17 ngôn ngữ ngọai quốc.)

Phải thời ô quả, chịu thời cô,

Chẳng biết tuồng đời tính thế mô?

Dòm thấy bụi trần toan đóng cửa,

Ngọc lành chi để thẹn danh ô.

(Thơ của nhà báo nữ đầu tiên Việt Nam, nữ sĩ Sương Nguyệt Anh – Nguyễn Ngọc Khuê 1864- 1921, sinh tại Bến Tre, con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu)

Bánh tráng Mỹ Lồng,

Bánh phồng Sơn Đốc,

Măng cụt Hàm Luông,

Vỏ ngòai nâu, trong trắng như bông gòn,

Anh đây nói thiệt,sao em còn so đo?

Bến Tre biển cá sông tôm,

Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng

Bến Tre gái đẹp thật thà,

Nói năng nhỏ nhẹ mặn mà có duyên.

Bến Tre nước ngọt lắm dừa,

Ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm.

Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn,

Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày.

Xòai chua, cam ngọt Ba Lai,

Bắp thì Chợ Giữa, mắm bày (ven biển) Giồng Khoai

(Ca Dao của ngon, vật lạ, con người Bến Tre)

Hò ơi… Đường về Ba Vác xa xôi

 Xin chàng dừng bước cho tôi theo cùng.

Bườm em chờ gió Nam non

Đưa về Hương Mỹ, Chợ Cồn, Hàm Luông

(Hò sóng Tiền Giang, Lê Bảo Trân trích dẫn ở “Ba Tri Giồng Giá quê tôi, 2006”)

Sông nước chảy, thuyền trôi tắp tắp

Buồm dăng dăng sóng nước Ba Lai …

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,

Thương em, thương mãi, thương nhiều, em ơi !

Sông Hàm Luông đưa lời non nước,

Tình Cổ Chiên sau trước còn đây …

(“Đường Về Quê Tôi” của Xuân Tước, Đồng Nai – Cửu Long số 2- 2005)

 Phần I : Tổng quát về Bến Tre

 Vị trí

Bến Tre nằm giữa hai nhánh chánh của Sông Tiền (Sông Trước) và sông Tiền lại là một nhánh chánh của sông Cửu Long. Ranh giới phía Bắc tỉnh nhà là dòng chánh sông Tiền chảy ra Biển Đông ở Cửa Đại ; còn nhánh nhỏ hơn phía Bắc chảy ra Cửa Tiểu lại thuộc tỉnh Tiền Giang, kể cả các cồn- cù lao giữa hai nhánh Cửa Tiểu và Cửa Đại. Trong khi phía Nam từ đầu tỉnh nơi ranh giới Bến Tre, Tiền Giang và Vĩnh Long, lại có tên riêng là sông Cổ Chiên chảy ra Cửa Cổ Chiên thuộc Bến Tre và Cửa Cung Hầu thuộc Trà Vinh. Giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên, có hai chi lưu nhỏ hơn nữa chảy ngay giữa tỉnh là sông Ba Lai, chảy ra Cửa Ba Lai và sông Hàm Luông chảy ra Cửa Hàm Luông. Nhắc lại là tên Cửu Long (chín Con Rồng), quốc tế gọi là Mê Kông là vì Sông Hậu (Sông Sau) chia ra ba nhánh chảy ra Cửa Định An, Cửa Bát Xắc(m Bassac) và Cửa Tranh (Trần?) Đề, thuộc hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng. Tọa độ tỉnh là 10010’ vĩ tuyến Bắc và 106030’ kinh tuyến Đông. Diện tích 2 321.6 km2(896.4 dặm Anh vuông) là tỉnh đứng thứ 10 về diện tích cuả 12 tỉnh ĐBSCL (theo Niên giám Thống kê, năm 2002, diện tích Bến Tre chỉ lớn hơn Vĩnh Long 1 475 km2, Trà Vinh 2 215 km2, lớn nhất là Kiên Giang 6 269 km2), nhưng dân số lại đứng hàng thứ 4, thứ 5.

Dân số Bến Tre năm 1995 là 1 281 nghìn người ; năm 2000 là 1305 nghìn và năm 2004 là 1346 nghìn; năm 2013 có thể trên 1400 nghìn. Đông nhất vẫn là tộc dân Kinh đa số, rồi đến Khmer Krom, Hoa và một ít Tày. Về hành chánh, Bến Tre nay chia ra làm 8 huyện : Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam,Thạnh Phú và thị xã Bến Tre. Điểm trung tâm tỉnh cách TP HCM – Sài Gòn 86 Km, theo đừờng bộ lên Đông Bắc. Như vậy, du khách từ Sài Gòn đi bằng xe búyt hay xe mô tô phải qua hai tỉnh Long An và Tiền Giang trước khi đến Bến Tre.

Địa hình, đất đai, khí hậu, thủy Văn

Địa hình Bến Tre là một tổng thể bằng phẳng khó phân biệt dạng chim ác là – pie shape (xem hình kèm), mỏ ở nguồn trên và các nhánh chánh là sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, làm lắng đọng những lớp trầm tích phù sa qua nhiều thế kỷ thành nhũng túi, cời than hình chim trải dài đến Biển Đông, chia đồng bằng Bến Tre ra làm 3 cồn đảo – cù lao rộng lớn: Cồn An Hòa, Cồn Bảo và Cồn Minh. Các nhóm đất chánh Bến Tre là đất phù sa, đất mặn ít- trung bình và một ít đất mặn sú vẹt. Phù sa ven sông hình thành ở địa hình cao, trên trầm tích sông, có phì nhiêu cao, phần đầu phía Tây Bến Tre của các sông Tiền, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Đất ít mặn là phần phía Đông các sông này đến tận các cửa. Bến Tre có một ít đất mặn sú vẹt ở bờ biển Cửa Đại, Cửa Ba Lai. Nên kể ra đất cát giồng thành hình do sóng biển và gió dồn cát lại, rải rác ở tỉnh nhà, là dấu tích chứng tỏ đồng bằng tiến ra biển. Các Giồng có địa hình cao hơn các vùng phù sa chung quanh và khác các đất cát giồng miền Trung là cát màu vàng thay vì màu trắng Đất Giồng thường cao ráo, dễ tiêu nước – thóat thủy là nơi tập trung nhiều làng mạc, trồng được những cây ăn trái có rễ sâu. Địa hình bằng phẳng đôi khi xen lẫn các giồng cát cao hơn đôi chút là vùng vườn tượt, trồng dừa và các lúa nước. Gần như không còn rừng tự nhiên ở Bến Tre nữa. Ngang dọc khắp tỉnh là mạng lưới sông nhỏ hơn và kênh mương, cho nên Bến Tre rất dễ bị ngập lụt. Viện Khảo Cứu Thay đổi Khí hậu của Viện Đại học Cần Thơ đã tiên đóan là 51 % tỉnh sẽ bị ngập lụt, nếu mực nước biển tăng thêm 1m nữa. Trung bình, địa hình Bến Tre hiện nay, chỉ cao hơn mực nước biển 1. 25m. Khí hậu Bến Tre là Gió Mùa Nhiệt Đới. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình từ 1250 mm đến 1500 mm. Nhiệt độ trung bình là giữa 260C và 270C.

Suôi dòng thời gian

Năm 1679, dư đảng của Trịnh Thành Công thời Minh mạt, chiếm cứ Đảo Đài Loan chống nhà Thanh là Tổng Binh Long Môn, một huyện phủ Quảng Châu tỉnh Quảng Đông Trung Quốc là Dương Ngạn Địch và phó tướng Hòang (Hùynh) Tiến cùng binh thuyền, tướng sĩ do Xá Sai Vân Trình và Tướng Lại Thần Văn Chiêu, theo lệnh chúa Hiền Nguyễn Phước Tần hướng dẫn, tiến vào cửa Lôi Lạp, theo Cửa Đại và Cửa Tiểu, đến định cư ở Mỹ Tho. Lập ra Mỹ Tho Đại Phố, tàu thuyền lui tới buôn bán đông đúc; nhóm họp nguời Miên, người Tàu và nhất là người Việt vở đất làm ruộng, chia lập trang trại thôn ấp. Như đã nói trên, phía Nam Cửa Đại là đất Bến Tre ngày nay. Sau 10 năm xây dựng, vùng này trở nên trù phú, nhưng về mặt chủ quyền hầu như vô chủ. Năm 1688, với tham vọng muốn thóat ly khỏi uy lực nhà Nguyễn, Hòang Tiến giết chủ Dương Ngạn Địch ở Cửa Đại, tự xưng là Phấn Dũng Hổ Oai tướng quân, thống lĩnh dư chúng Long Môn, sang đóng đồn ở Nan Khê, nay là Rạch Than- Bến Tre, thủ hiểm, đắp lũy, đúc đại bác, đóng thuyền chiến, thả quân đi cướp bóc. Chúa Nguyễn Phúc Trăn sai Mai Vạn Long, Nguyễn Hửu Hào và Trần Thượng Xuyên kịp thời dập tắt âm mưu Hòang Tiến cát cứ. Năm 1689, chúa Nguyễn Phước Chu sai Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) vào Nam Kinh lược, chia đất Đông Phố, lập dinh Gia Định (Phiên Trấn) và phủ Gia Định. Đất Mỹ Tho chưa trực tiếp thuộc quyền phủ Gia Định. Năm 1731, Chúa Nguyễn Phước Trú buộc vua Miên Nặc Tha (So Tha II) chánh thức nhường (tuy người Việt đã chiếm cứ khai khẩn) hai tỉnh Me- Sa và Long Hor (đất Mỹ Tho và Vĩnh Long ngày nay). Trên đất Long Hor, chúa đặt châu Định Viễn, lập dinh Long Hồ. Cả châu Định Viễn, dinh Long Hồ nằm phía hửu ngạn sông Cổ Chiên, cho nên có thể nói là đất Bến Tre, phần tả ngạn sông Cổ Chiên đương nhiên năm 1731 đã là đất xứ Đàng Trong, không còn là vô chủ nữa. Năm 1757, để được phong làm vua, Nặc Nhuận (Neac Ang Nhuan) hiến cho chúa Nguyễn Phước Khóat đất Trà Vinh – Praah Trapeng và Sóc Trăng- Srok Trang. Sau đó Nặc Tôn nhờ chúa Nguyễn giúp lên ngôi vua, dâng đất Tầm Phong Long, phía Bắc Sóc Trăng là tỉnh An Giang. Như vậy, miền đất giữa hai sông Tiền và Hậu (Bến Tre, Trà Vinh,Vĩnh Long …) và ở phía Đông dọc theo hửu ngạn sông Hậu(Sóc Trăng …), chánh thức thuộc về Chúa Nguyễn. Ninh Vương Nguyễn Phước Trú mở rộng dinh Long Hồ, thêm 4 huyện: Long Xuyên-Cà Mau, Kiên Giang-Rạch Giá, Trấn Giang-Cần Thơ và Trấn Di-Bắc Bạc Liêu.

Biết rỏ ràng địa dư của miền Lục Tỉnh thời xưa, không ai bằng chúa Nguyễn Phước Ánh. Theo Nguyễn Hửu Phước (Đồng Nai – Cửu Long số 2), năm 1775, khi Phú Xuân – Huế thất thủ vào tay Chúa Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng với cháu là Nguyễn Ánh chạy thóat nạn vào đất Gia Định, lúc đó là tòan thể đất miền Nam ngày nay. Quân binh Tây Sơn (anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ nổi dậy từ làng Tây Sơn, Bình Định năm 1771) và quân binh Nguyễn Ánh, từ năm 1775 đến năm 1790, đã đánh và chiếm Gia Định tất cả 6 lần. Mỗi lần thất thủ Gia Định, Nguyễn Ánh bôn ba chạy lánh nạn Tây Sơn, ẩn tránh ở nhiều vùng khác nhau tại ĐBSCL. Theo ông Nguyễn hửu Đức, chúa Nguyễn Ánh đã từng lánh nạn ở Bến Tre, có lần ghé qua đồng Tam Quản, xã Hiệp Hưng huyện Giồng Trôm, được Trương Tấn Bửu đưa ra Cù Lao Đất, một cồn nhỏ giữa sông Hàm Luông trốn binh lính Tây Sơn. Năm 1803, dinh Long Hồ đổi tên là Hòang Trấn. Năm 1804 đổi tên là dinh Vĩnh Trấn, nhập hai đạo Long Xuyên (Cà Mau) và Kiên Giang vào dinh Vĩnh Trấn. Năm 1908, đổi tên là trấn Vĩnh Thanh, thăng Châu Định Viễn thành phủ Định Viễn. Năm 1832 đổi Vĩnh Thanh thành Vĩnh Long Trấn. Sau khi tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng đổi Trấn làm Tỉnh. Miền Nam có 6 tỉnh là Nam Kỳ Lục Tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đặt chức Tổng Đốc để cai trị 2- 3 tỉnh và Tổng Đốc Long Tường thống trị hai tỉnh Vĩnh Long và Định Tường. Năm 1850, vua Tự Đức bổ nhiệm Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược Sứ Nam Kỳ và Phan Thanh Giản làm kinh lược Phó Sứ. Phan Thanh Giản đặt tổng hành dinh ở Vĩnh Long. Phan Thanh Giản là người sinh sống Bến Tre, người Miền Nam đổ tiến sĩ đầu tiên kỳ thi Hội – Huế năm 1826; và năm 1863 được triều đình Huế cử hướng dẫn phái đòan hơn 50 người, có Petrus Ký làm thông ngôn, lên đường sang Pháp, chuộc lại 3 miền Đông Nam Kỳ nhưng việc không thành. Trương Vĩnh Ký là người biên sọan bộ tự điển Pháp -Việt đầu tiên, người đầu tiên dùng chữ quốc ngữ ở địa hạt văn chương và cũng là người đầu tiên làm báo ở Việt Nam. Năm 1852, ông Lương Đức Phụng được sắc phong của vua Tự Đức làm thành hòang làng Tường Lộc, ông Phụng đã ra công khai phá dọc theo sông Măng (Mân) Thít, sông nối liền sông Tiền và sông Hậu, thuộc tỉnh Vĩnh Long. Một người em khác của Phụng khai phá lập ra làng Tiên Thủy Hàm Luông, Bến Tre. Nguyễn Tri Phương báo cáo năm 1853 là đã chiêu mộ dân Miền Trung vào khai hoang, sau 1 năm đã thành lập được 124 ấp các tỉnh Nam Kỳ, trong đó Vĩnh Long đuợc 60 ấp, không rỏ bao nhiêu thuộc Bến Tre. Năm 1867, Pháp chiếm Vĩnh Long lần thứ hai. Phan Thanh Giản tuẩn tiết và 2 ngày sau, Pháp chiếm luôn thành Hà Tiên và thành An Giang. Ngòai Phan Thanh Giản, Petrus Ký các danh nhân Bến Tre khác vào thời nay là Võ Trường Toãn (? 1792), không tham chánh nhưng là thầy dạy các học giả, hiền nhân như Ngô Nhân Tịnh, Trịnh Hòai Đức, Lê Quang Định, Phan Thanh Giản và cả Petrus Ký nữa, cũng như “ông Già Ba Tri” cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu và con gái là Sương Nguyệt Ánh – Nguyễn Thị Khuê ở những câu thơ nhập đề, Phan văn Trị (1830-1910) chống Pháp nổi tiếng nhờ họa thơ chống đối Tôn Thọ Tường, theo Pháp\. Gần đây hơn, có lẽ nên kể đến nhà giáo Ca Văn Thính (1902 – 1987), nhà thơ Lê Ánh Xuân, họa sĩ Lê Văn Đệ, Nghệ Sĩ Ba Vân, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.. và “ nữ tướng” Nguyễn Thị Định(1920- 1992), nguyên quán xã Lương Hòa – huyện Giồng Trôm, gia nhập đảng Cọng Sản Đông Pháp từ năm 1930, đã bị Pháp bắt giam năm 1940 ở nhà tù núi Bà Rá- tỉnh Bình Phước (Phước Long cũ) ngày nay. Ngày 26 tháng chín 1959, “ bà tướng Định” chỉ huy “ đạo quân tóc dài” tấn công sư đòan 23 Việt Nam Cọng Hòa, giết chết 12 và làm bị thương 14 binh lính, khởi đầu cuộc Chiến Tranh Việt Nam (?) (theo Pringle “ The Quiet Town where the Việt Nam War began”, xuất bản năm 2004, sửa chửa lại năm 2010). Sau khi chiếm trọn Miền Nam, Pháp Nam Kỳ Lục tỉnh thành 21 tỉnh. Riêng Vĩnh Long chia thành 3 tỉnh : Vĩnh Long,Trà Vinh và Bến Tre. Sau năm 1975, Vĩnh Long và Vĩnh Bình nhập lại thành tỉnh Cửu Long, một phần quận Chợ Lách cắt về Bến Tre. Nhắc lại là ở huyện Chợ Lách Bến Tre, ngày trước Trương Vĩnh Ký đã từng đem một số cây ăn trái từ Mã Lai về trồng như chôm chôm, măng cụt, li ki ma- cây trứng gà, sa pô chê; và Pháp làm một con đường chạy từ đầu Cù Lao Minh xuống Thạnh Phú qua Chợ Lách, Mỏ Cày và Đôn Nhơn, nay là quốc lộ 57, chia đôi vùng đất đai Bến Tre, giữa sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Tháng 12 năm 1991, Cửu Long chia lại thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh như cũ. Nhưng Chợ Lách vẫn thuộc Bến Tre, nay là một huyện của tỉnh nhà.

Phần II: Luận Bàn về Phát triển Bến Tre

GDP trung bình mỗi đầu người Bến Tre chỉ đạt 90% GDP trung bình của 12 tỉnh, 50% của tất cả mọi tỉnh miền Nam, và khiêm tốn chỉ bằng 30% mức phát triển Vùng Kinh tế động lực- đặc điểm miền Nam. Tuy rằng GDP mỗi đầu người Bến Tre cũng đã tăng mạnh mẽ từ 151 $- USD(1.69 triệu ĐVN) từ năm 1991 lên 243 $USD (2.69 triệu ĐVN) năm 1995 và 353 $USD (5.01 triệu ĐVN) năm 2000. Mức sống dân gian tuy cải thiện, nhưng hố khác biệt giữa dân nông thôn và dân thành thị lại càng rộng thêm, từ 2.53 lần năm 1991 đến 4.1 lần năm 2000. Không tương xứng tí nào danh nghĩa là xứ Đồng Khởi Cách Mạng, bà Nguyễn thị Định đã khai trương các năm 1959 – 1960. Năm 2003, tỉ xuất tăng GDP là 9.03% cao hơn chỉ tiêu là 9%, và cũng khá hơn năm 1991, chỉ tăng 6.07 % và 6.16% mỗi năm trung bình cho các năm 1996 – 2000. Năm 2012, GDP mỗi đầu người Bến Tre là 1200 USD.

Nông Nghiệp

Năm 2003, nông nghiệp còn chiếm đến 60% GDP, tuy thể tích đã trụt xuống so với hai lảnh vực công nghệ – xây cất và dịch vụ-thương mãi. Mức tăng nông nghiệp năm 2003 là 8%. Nhờ mạng lưới sông – kênh dài hơn 500 km, Bến Tre giàu tài nguyên thủy sinh, ngư sản (tôm cá, ốc sò nghêu, cua ghẹ … nước ngọt, nước lợ nước mặn … Đất đai phần lớn nhiều phù sa, Bến Tre góp phần tạo vựa lúa dự trử của Châu thổ sông Cửu Long lớn nhất nước và còn có nhiều lòai cây trồng khác phồn thịnh. Tỉ như các vườn hoa – cây kiểng – cây trái ở Cái Mơn- Chợ Lách, Bình Đại – Giồng Trôm, mỗi năm bán ra hàng triệu cây con giống lòai ăn trái và hoa kiểng đặc sắc. Vườn Hoa Cái Mơn nay đã phát huy ngành công nghệ trồng hoa mới mẽ, càng ngày càng đẹp, bán ra ở nhiều tỉnh nước nhà luôn cả Trung Du, Tây Nguyên. Nhưng đặc sắc nhất ở Cái Mơn, xã Vĩnh Thanh, huyện Châu Thành là sản xuất cây“kiểng thú”,tạo ra đủ hình dáng long (rồng) – ly (kỳ lân) – qui (rùa) – phượng (phượng hòang, chim trĩ) cùng nhiều lòai động vật khác, cây-lá-hoa- trái các nghệ nhân, tay nghề lâu năm chủ trì, điều khiển cho mọc theo khung kim lọai, danh từ địa phương là thổi hồn vào các dạng động vật này khiến chúng sống động, hút dẫn …

Không nên quên nông nghiệp Bến Tre còn trồng nhiều lúa trên đất nặng (xem các bài về lúa ĐBSCL Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang …), bắp – ngô trên đất cát, tuy rằng ¾ đất Bến Tre còn bị triều cường đưa nước biển tràn vào làm mặn, nên thường chỉ trồng được một mùa lúa, thay vì 2-3 vụ một năm. Về lúa Bến Tre đang cố gắng chuyễn qua các giống mới gạo thơm và gạo cao phẩm cho đòi hỏi thị trường Trung Quốc và gạo hấp – parboiled rice. Năm 2002,chánh quyền bắt đầu thực hiện đại công tác xây cất Cửa Cống – floodgate Ba Lai quan niệm từ thời Pháp Thuộc và các thời Cọng Hòa. Chắc nay đã hòan tất?. Cửa Cống ngăn nước biển xâm nhập, thảy ra biển nước phèn ô nhiễm và giữ lại nước ngọt tưới tiêu gần 20 000 ha ruộng,vườn. Lợi dụng đặc điểm thủy triều đẩy nước ngọt vào kinh, mương, vuờn, ruộng mùa kiệt, Bến Tre đã phát triển thêm nuôi tôm, cá. Ao hồ Bến Tre nuôi cá tra Pangasius thâm canh năm 2013, chiếm trên 1823 ha trong tổng số 10 000 ha ở Việt Nam, trên cả ĐồngTháp (1080 ha) An Giang(558 ha) … Nuôi tôm cũng tăng, nhưng nông dân Bến Tre đã chuyễn hướng qua nuôi tôm thẻ chân trắng -vannamei shrimp thay cho tôm sú - black tiger shrimp vì thời gian nuôi tôm thẻ ngắn hơn và năng xuất cao hơn. Sáu tháng đầu năm 2014?, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 53 000 ha và sản lượng là 117 000 t. Trong thời gian này, diện tích nuôi tôm sú Việt Nam là 495 000 ha, giảm đi 10 % so với cùng thời gian năm 2013, sản lượng tôm sú là 106 000 t, giảm 5.5 %. Bến Tre dẫn đầu sản lượng tôm thẻ (18 300 tấn), cao hơn Trà Vinh (8 900 t), Bạc Liêu (8.2000 t), Tiền Giang (5300 t). Tháng 11 năm 2009, Quỉ Thế Giới Hoang Dã – World Wild Fund cho biết là nghêu vỏ cứng -hard clam Bến Tre đã được cấp bằng chứng nhận khai thác vững bền tài nguyên biển. Bến Tre có 65 km bờ biển, hơn 4300 tàu đăng ký và hơn1500 tàu đánh cá xa bờ. Sản lượng hải sản đánh bắt lên đến 300 000 tấn một năm.

Nhưng đặc điểm lừng danh nông nghiệp Bến Tre Dừa. Bến Tre là xứ dừa - land of the coconut. Đất đai Bến Tre thích hợp trồng dừa cao năng, nhiều trái, cơm dừa chứa nhiều dầu hơn các tỉnh khác. Năm 2011,Bến Tre có 51 000 ha dừa, trong số này 41 000 ha, sản xuất trên 400 triệu trái dừa khô một năm (trung bình một cây dừa Việt Nam là 70 trái một năm). Cây, trái dừa làm ra nhiều sản phẩm, từ thực phẩm và nước giải khát, chí đến các vật dụng trong nhà, các đồ nghệ thuật tinh vi và để xây cất cửa nhà. Tỉnh hiện có 70 doanh nghiệp và 14000 cơ sơ tiện nghi cho 50 000 nhân công, chuyên sản xuất và biến chế các sản phẩm dừa. Hồ Vĩnh San, chủ tịch hội Dừa Bến Tre cho biết: nếu bạn trái dừa cho tiểu thương, thì chỉ thu vào 1100ĐVN, trong khi một trái dừa biến chế xuất khẩu là 10 000 ĐVN, cho nên chế biến trái dừa là một lợi nhuận kinh tế, thêm nhiều công ăn việc làm cho dân gian tỉnh. Nay Bến Tre làm ra hơn 40 sản phẩm dừa, từ khô dừa (cơm dừa nạo phơi khô), dầu dừa, bánh dầu dừa, xơ – fiber dừa đến kẹo dừa – coconut candy, thạch dừa – coconut jelly. Các sản phẩm này đã xuất khẩu ra khắp thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Căm Bốt, Lào, Hoa Kỳ, Pháp, Canada và Úc châu. Hơn 100 vật dụng nghệ thuật tinh vi từ cây, trái,vỏ và thân dừa, ngọai quốc rất ưa chuộng. Các sản phẩm dừa chiếm chừng 50% tổng số xuất khẩu tỉnh. Bến Tre dự trù tăng diện tích dừa trong tỉnh năm 2020 lên 53 000 ha, sản xuất trên 500 triệu trái dừa mỗi năm. Thành lập những vùng trồng dừa cao sản cốt cán ở các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày và Giồng Trôm, theo tiêu chuẩn tiểu điền diện tích 2- 3 ha, như “ Vua Dừa Bến Tre” Đổ Thành Thương, gia chủ vườn dừa 2.5 ha sây trái. Năm 2011, ông thu được lợi tức gần 300triệu ĐVN (trên 10 000 USD một năm). Các tiểu điền dừa cao năng sẽ lên đến 20 000 ha năm 2020, giữa hàng trồng ca cao và trên mương rạch nuôi tôm, đa canh với nhiều cây trái khác hay nuôi thêm gia cầm, gia súc …, tăng lợi tức và chịu đựng được phần nào gía cả dừa thăng trầm (giá quốc tế cơm dừa sấy khô tháng chín 2011 là 2 730 USD/tấn, tháng 6 năm 2012 rớt xuống chỉ còn 1150 USD chẳng hạn, khiến một số gia chủ đã phải đốn bỏ dừa) đều được chánh quyền hổ trợ. Vườn tuyễn chọn các giống ca cao xen kẻ hàng dừa lớn nhất bộ Nông nghiệp thiết lập ở huyện Bình Đại, mỗi năm cung cấp hơn 60 000 cây giống ca cao con để trồng cho 90 000 ha ca cao nước nhà dự trồng hiện nay.

Miệt vườn Bến Tre còn là nơi sản xuất cây trái nổi tiếng. Tỉnh nhà năm 2013, có 36 000 ha đủ lọai, tập trung chánh ở các huyện, nơi nào có nước ngọt và nước lợ: xoài riêng, xoài, long nhãn (nhiều nơi đã nuôi ong mật dưới các hàng long nhãn), vú sửa, thơm- dứa- khóm … Nhắc lại là ĐBSCL tính ra có trên 300000 ha cây ăn trái, mức xuất khẩu trị giá 600 triệu USD mỗi năm. Nổi bật nhất là Bưởi Da Xanh, một trong 9 lọai trái cây đặc sản nhãn hiệu nước nhà : Xoài Cát Hòa Lộc – Cái Bè(Tiền Giang), Quít ngọt Lai Vung (Đồng Tháp), Vú sửa Vĩnh Kim- Lò Rèn (Tiền Giang), Xòai Riêng Cái Mơn (Bến Tre) v.v…. Trái Bưởi Da Xanh Bến Tre hình tròn, nặng trung bình 1.2 – 1 2.5 kg. Khi chín da trái xanh hay xanh vàng lợt, rất dễ bóc vỏ và vỏ mỏng (14 – 18mm). Thịt tép múi màu đỏ, đỏ hồng, rất khít và cũng dễ bóc múi, nước cốt ngọt (brix 9.5 – 12%), không chua- đắng, thơm và rất ít hột (nhưng đôi khi có thể đến 30 hột một trái). Tỉ lệ thịt / trái hơn 55 %. Bưởi Da Xanh xuất hiện lần đầu tiên có lẽ ở xã Tân Thạnh, huyện Mỏ Cày – Bến Tre, nhưng sau đó lan tràn qua nhiều địa điểm khác trong tỉnh nhà, dân dịa phương tuyển chọn những dạng chiết trồng đặc tính có phần khác biệt nhau đôi chút. Nhưng ngon nhất có lẽ là giống Bưởi Da Xanh ở làng Thạnh An (?) thị xã Bến Tre và giống đăng ky BR 99 của ông Ba Rỗ(Đặng Văn Rỗ) ở huyện Mỏ Cày Bắc… Bến Tre trồng đến 3284 ha Bưởi Da Xanh, phân bố khắp mọi nơi có nước ngọt hay nước lợ. Trung bình bưởi chiếm 32.26 % diện tích vườn trái, năng xuất bưởi là 9- 14 tấn/ha. Trồng thành công bưởi da xanh tương đối khó khăn: phải biết rỏ giống tốt, cách lựa trái nhỏ trên đài hoa, săn sóc tỉ mĩ, bón phân kể cả các vi tính tế nguyên (bần tố), trị bệnh, trị sâu… kỷ lưởng v.v…

Đồng Khởi Du lịch mạnh mẽ hơn, như Cách Mạng – Chính trị (?) trước 1975?

Bến Tre cần thực hiện mau lẹ hệ thống đường bộ và đường sông thóat ly khỏi cô độc, ưu điểm thời chiến tranh nhưng lại là khuyết điểm lớn thời bình, thời phát triển kinh tế xã hội. Bến Tre cần tập trung cải tiến Quốc lộ 60 dài 35. 38 km và nâng cấp Quốc lộ 57, dài 40,68 km thiết lập từ thời Pháp thuộc, từ thị xã Vĩnh Long đến Giao Thới (không chỉ đến Thạnh Phú), cho đúng tiêu chuẩn quốc gia hạng 4 ứng dụng cho đất đai bằng phẳng, xây cho mau xong18 cầu bê tông dọc theo đường. Cầu Rạch Miểu từ thị xã Mỹ Tho qua thị xã Bến Tre, khởi công ngày 30 tháng 4 năm 2002 nay đã xong, đúng là đã làm cho Bến Tre bớt cô độc từ xưa rày, hội nhập phát triển kinh tế, xã hội được với các tỉnh của ĐBSCL, đồng thời cũng tăng cường quốc phòng và an ninh vùng. Không rỏ cầu Hàm Luông trên đường 60, từ thị xã Bến Tre qua đến thị trấn Mỏ Cày rồi thị xã Trà Vinh đến Tiểu Cần, vượt sông Hậu đến Đại Ngãi, thị xã Sóc Trăng… nay đã xong chưa? Các đường tỉnh lộ đang được nâng cấp là: tỉnh lộ PR 883 dài 58.33 km, PR 884 dài 24.4 km, PR 885 dài 45,40 km, PR 886 dài 65.3km, PR 887 dài 93.1 km, PR 888 dài 48,32 km. 16 đường huyện như PW 14. PW 18 … cũng đựợc sửa sang. Cũng như các hương lộ, liên xã trong tỉnh được nâng cấp, tu chỉnh hay làm đường mới theo nhu cầu phát triển nông thôn. Trong vòng 10 năm tới, Bến Tre dự tính xây thêm 7-8 phà – ferry mới gồm các phà Tân Phú, Hưng Phong, Tam Hiệp, Mỹ Hưng, đặc biệt là phà Cổ Chiên nối quốc lộ 60 từ Mỏ Cày-Bến Tre đến tỉnhTrà Vinh, và phà Đình Khao nối quốc lộ 57 từ huyện Chợ Lách -Bến Tre đến tỉnh Vĩnh Long. Một cảng sông sẽ được xây dựng ở xã Phú Túc hửu ngạn sông Mỹ Tho cho tàu trọng tải 3000- 3500 tấn có thể cập bến, dung tích 1.2 triệu tấn hàng hóa một năm.

Trước tiên là thăm viếng xưởng làm kẹo dừa, phía trước bán kẹo, phía sau là xưởng ở thị xã Bến Tre, tỉnh lỵ tỉnh xứ dừa nước nhà. Thị xã có 4 xưởng, phụ nữ- đàn bà làm kẹo dừa, toàn bằng tay. Một xưởng ở số 212B Đại Lộ Đồng Khởi và bên kia đường là xưởng kẹo thứ hai. Nhờ có cầu Rạch Miễu hoàn thành đã 5 năm, nay có thể đi xe buýt, xe tắc xi qua cầu Rạch Miễu, nối thị xã Mỹ Tho và thị xã Bến Tre, cách nhau chừng 10km. Dịch vụ xe buýt mini trực tiếp – direct mini bus, từ TP Sài Gòn – HCM nằm ở trạm ga buýt Miền Tây và Chợ Lớn. Lưu ý là khi đến Bến Tre, nên xuống xe ở đường vòng quanh, sau hai cầu lớn và nhà hàng bán Mắt Kiếng Điện Biên Phủ, vì búyt còn chở tới trạm ngoại ô; rồi lấy xe tắc xi hay xe mô tô ôm đến trung tâm thị xã. Búyt tư nhân Thịnh Phát, nằm ở số 25A đường Sư Vạn Hạnh, phường 9,quận 5 TP HCM, cứ 1 giờ có một chuyến từ 7 giờ sáng chở du khách đến bất cứ nơi nào ở thị xã, giá chỉ 75 000 ĐVN. Hay qua phà Rạch Miểu ở Mỹ Tho, cứ 20 phút có một chuyến suốt ngày đêm, rồi lấy xe ôm đưa đến trung tâm Bến Tre. Cũng có phà từ tỉnh Vĩnh Long đến phía Tây Bắc Cù Lao thuộc Bến Tre và phải cần phương tiện chuyên chở khác mới đến được thị xã Bến Tre. Thị xã trải dài trên sông. Xe đạp hay xe mô tô có lẽ là cách tốt nhất thăm viếng, đặc biệt khi có dự liệu thăm viếng các vườn cây trái khá xa trên sông. Ngòai các xưởng kẹo dừa, có thể tham quan Chợ (cũ) Bến Tre, không mấy thay đổi từ thời Pháp thuộc và Xưởng làm rượu gạo -nếp ở bờ sông phía Nam, cách cầu cũ 0.5 km phía Tây. Quanh Chợ có nhiều quán hàng ăn, món ngon nhất có thể là hủ tiếu nhưng thường chứa lòng, ruột gan nên cần lựa chọn. Gần cầu cũ, có nhà hàng nổi. Muốn ăn điểm tâm bánh ngọt ngon, rẽ tiền thì đến nhà hàng Coop Mart ngay sau đường Hai Bà Trưng. Cơm gà và tôm xào ở tiệm Nam Sông, cũng đáng thưởng thức. Bia đá lạnh nhất Bến Tre là ở tiệm Oasis, đóng cửa 9 giờ rưởi đêm. Câu lạc Bộ phổ thông nhất là Club 007, nhưng quá ồn ào và chỉ náo nhiệt cuối tuần. Khách sạn Hàm Luông Hôtel ở số 200 đường Nguyễn văn Tư là khách sạn tốt nhất và kỳ quặc xa xỉ nhất tỉnh, có hồ tắm bên ngòai, nhà tắm hơi, chỉ xếp vào hạng ba sao. Mọi phòng ngũ đều trang trí Internet cáp, ti vi kênh nói tiếng Anh- Ăng Lê, máy lạnh; điểm tâm búp phê ở đây là một lẫn lộn giữa thực phẩm Á Đông và Tây Phương … Khách sạn Đồng Khởi số 16 đường Hai Bà Trưng, phường 2, thị xã Bến Tre, phía Bắc hồ Trúc Giang, có nước nóng ngọai trừ các phòng rẽ tiền nhất, wifi tự do, tiệm ăn, karaôkê, xoa bóp và lạ lùng giá hạ sẽ thấp nếu nhận phòng sau 4 giờ chiều. Khách sạn Đại An Hotel, cách Chợ trên sông chừng 1Km, đối diện Oasis Hotel bên kia sông, moọi phòng đều sạch sẽ và yên tĩnh, có nước nóng, máy lạnh, wifi mạnh mẽ, một ban công nhỏ, ti vi kênh Ăng Lê, bar mini, cung cấp khăn mặt và đồ rửa ráy trang điểm – toiletry, dọn sạch phòng mỗi ngày. Gần đó có 2 tiệm cà phê và xa hơn tí nữa là các tiệm địa phương cống hiến nhiều lọai xúp mì. Oasis Hotel ở số 151 đường Mỹ Thạnh An có wifi tự do, hồ tắm, nói ba thứ tiếng Anh- Khmer – Việt, bia lạnh, tường tận về tông tích địa phương, đúng làm hướng dẫn số một cho ai tham quan tỉnh… Nếu muốn qua lịch sử Bến Tre,thì viếng thăm Viện Bảo Tàng Bến Tre Museum, ở số 146 đường Hiền Vương phường 3 thị xã. Viện bảo tàng này xây cất theo kiến trúc cổ điển Pháp, cách đây gần 100 năm, một di tích lịch sử hiếm có tỉnh nhà. Viện Bảo Tàng Bến Tre, thiết lập năm 1981, trên một diện tích 14 000m2, gian triển lãm chiếm 474 m2, chánh quyền hiện hửu đề cao (có khi quá đáng) các hình ảnh và kỷ vật qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ – Cọng HòaViêt Nam của dân quân Bến Tre. Tầng dưới gồm 3 phòng : các di tích (cả thảy là 20 được Bộ Văn Hóa và Thông tin xác nhận, trong đó 14 là quốc gia và 6 là tỉnh nhà); các danh nhân đất Bến Tre theo quan điểm chánh quyền; các họat động cách mạng thời gian 1954 – 1960. Tầng trên (?) cũng gồm 3 phòng: thời Đồng Khởi các năm 1960 và 1964, cuộc chiến đấu thời gian 1964 – 1968 và từ cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đến “Tòan Thắng mùa Xuân” năm 1975.

Những di tích lịch sử khác ở Bến Tre là Nhà Cổ Truyền Đồng Khởi ở huyện Mỏ Cày, nôi phong trào Đồng Khởi và di tích bải biển miền Bắc xâm nhập đánh miền Nam tại huyện Thạnh Phú dọc theo bờ sông Cổ Chiên tục gọi là Đường Mòn Hồ ChÍ Minh theo Biển – Ho Chi Minh Trail by Sea hay ở huyện Ba Tri, bia mộ của cụ Nguyễn Đình Chiểu, bênh cạnh mộ vợ và con gái: bà Nguyễn Thị Khuê, bút danh Sương Nguyệt Ánh. Cuối cùng có thể viếng Chùa Ông Đạo Dừa ở Cồn Phụng, húy danh của kỷ sư Nguyễn Thành Nam, tu luyện trên cây dừa và đặc biệt trước đó nuôi chuột chung với mèo, tượng trưng tham vọng “Hòa Giải” (?) dân tộc đã không xảy ra, không mấy ai theo lúc đó !.

Công nghệ cũng phát triển không Đồng Khởi như nông nghiệp

Đến năm 2012, Bến Tre chỉ mới hòan thành 2 Công viên công nghệ- Industrial Parks, IP trong khi cả nước đã hòan tất 289 công viên, diện tích tổng cọng là 81 500 ha. Đó là công viên Giao Long và An Hiệp. Đến năm 2020, Việt Nam dự trù làm thêm 212 IP nữa, tổng diện tích là 120 – 130 000 ha. Bến Tre chỉ dự trù làm thêm 5 IP: Giao Long II, An Hiệp II, Thanh Tân, Phước Long và Giao Hóa (?). Diện tích trung bình mỗi công viên là 200 ha. Công nghệ đầu tư ở các IP Bến Tre là chế biến nông hải sản. Tỉnh hiện chỉ mới chế biến 30 % nguyên liệu nông hải sản tỉnh. Chẳng hạn ở IP Giao Long, Công Ty Puratos Grand Place Viêt Nam chuyên môn làm bánh mì, bánh ngọt và sô cô la, cuối năm 2013, khai trương xưởng lên men hột ca cao đầu tiên nuớc nhà. Mức đầu tư tổng cọng là 4 triệu đô la Mỹ, chế biến 1000 tấn ca cao/năm.…

 

GS Tôn Thất Trình

(Irvine, Nam Ca Li ngày 18 tháng 7 năm 2014)



Nguồn: http://khoahocnet.com/2014/07/21/gs-ton-that-trinh-luan-ban-ve-phat-trien-ben-tre/